Ánh sáng mới cho sự sống

Bạn đang lo lắng tìm giải pháp hữu hiệu cho bệnh béo phì hay sợ hãi trước căn bệnh ung thư?
Những tiến bộ của y học trong thời gian tới sẽ đem đến cho bạn những phương pháp điều trị mới rất khả quan, như những thông tin được chuyên san khoa học Popular Science ghi nhận dưới đây…
Không cần chờ tặng cơ quan nội tạng nữa…
Chuyên gia về mô Anthony Alata thuộc Trung tâm y khoa Đại học Wake Forest và các cộng sự đưa ra thông tin này vào tháng 4.2006 khi họ công bố bàng quang nhân tạo đầu tiên được cấy ghép thành công ở người. Một tháng sau đó, họ cho biết đã sử dụng kỹ thuật cấy ghép mô tương tự để phục hồi chức năng tình dục cho thỏ bị tổn thương dương vật, mở ra cánh cửa cho những phương pháp điều trị hoàn toàn mới cho các quý ông bị trục trặc tình dục. Thử thách to lớn kế tiếp là tạo nên một trong những cơ quan phức tạp nhất của cơ thể con người” quả thận. Công việc nghiên cứu của Atala về bàng quang bắt đầu từ năm 1999, khi ông có được tế bào của bệnh nhân đầu tiên trong số 7 bệnh nhân bị bệnh bàng quang. Ông và đồng nghiệp nuôi trồng tế bào này trong một mẻ cấy vi khuẩn, cấy chúng dưới dạng một cấu trúc có hình bàng quang, đang bị vi khuẩn tấn công rồi sau đó ghép những tế bào mới sinh ra vào các bộ phận đang bị suy yếu của bệnh nhân. Mùa xuân 2006, họ có bài viết trên một tạp chí y khoa hàng đầu, cho biết những người được ghép bàng quang nhân tạo đều khỏe mạnh, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong công nghệ cấy ghép mô. Phương pháp này có thể được áp dụng nhân rộng vào năm 2016.
Các chuyên gia đã cấy được một phần mô của thận giúp bài tiết một chất giống như nước tiểu. Bước quan trọng kế tiếp là nuôi trồng hàng triệu nephron (ống dẫn tiểu), vốn rất cần thiết cho hoạt động bình thường của thận. (Ảnh 1)
Những quả bom carbon
Tiêu hủy sự phát triển của tế bào ung thư trong khi không làm ảnh hưởng đến tế bào bình thường khác, phương pháp này dựa trên hợp chất cao phân tử rỗng hình cầu có kích thước siêu nhỏ, khoảng 1/1.000 đầu đinh ghim. Robert Langer tại Viện công nghệ Massachusetts và Omid Farokhzad tại Đại học Harvard đang thí nghiệm ngâm những hợp chất hình cầu này, còn được gọi là nanoshell, vào thuốc trị liệu với liều lượng rất nhỏ. Để đảm bảo rằng các phân tử này chỉ tấn công vào tế bào ung thư, các nhà nghiên cứu đã gắn chúng với một chuỗi phân tử aptamer để cô lập những protein sinh ra từ tế bào ung thư. Aptamer hoạt động như thiết bị định vị toàn cầu (GPS) trong xe hơi. Chúng sẽ hướng dẫn những phân tử được chỉ định tiếp cận tế bào ung thư, Farokhzad nói. Một khi những phân tử này đến được nơi đã xác định trước, chúng sẽ đặt “bom” phá ung thư vào tế bào đang bị bệnh, hủy tế bào này mà không làm ảnh hưởng đến các bộ phận còn khỏe mạnh. Phương pháp này có thể được được áp dụng vào năm 2014. Langer và Farokhzad công bố số liệu hồi đầu năm 2006 chứng minh rằng những phân tử hình cầu giúp phá hủy khối u tuyến tiền liệt ở chuột. Thế nhưng cần ít nhất ba năm nữa thử nghiệm trên động vật trước khi khẳng định độ an toàn. Thử nghiệm trên người có thể mất thêm 5 năm nữa hoặc lâu hơn nhưng nó đáng để chờ đợi. (Ảnh2)
Loại bỏ gene gây béo phì
Điều gì sẽ xảy ra nếu một mũi tiêm đơn giản có thể khống chế gene làm tăng trọng, buộc tế bào đốt nhiều chất béo hơn và phản ứng nhanh hơn để làm thay đổi lượng đường? Phương pháp điều trị này đang được chuyên gia sinh hóa Michael Czech và đồng nghiệp tại Đại học y Massachusetts nghiên cứu. Chìa khóa chủ yếu của phương pháp là một kỹ thuật can thiệp vào RNA (RNA interference – RNAi), một trong những cơ chế tự bảo vệ của cơ thể, Nói rõ hợn, khi virus xâm nhập tế bào, nó sẽ chuyển mã gene của nó sang tế bào theo cơ chế nhân đôi RNA. Khi tế bào phát hiện RNA là kẻ xâm nhập, nó sẽ cắt RNA thành những mảnh nhỏ và tấn công bất kỳ gene nào có chứa những mẫu RANi. Năm 2005, Czech đã sử dụng RNAi để vô hiệu hóa 1.000 gene có trong mô chứa chất béo. Nếu không có RNAi, các nhà khoa học sẽ mất hàng thập niên để thực hiện quá trình vô hiệu hóa tương tự. Giờ đây, họ chỉ cần tiêm một ít RNA phù hợp với gene mục tiêu, kích thích tế bào ngăn chặn gene hoạt động. Với một số gene không thể tác động được, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng mô sẽ phản ứng nhanh hơn với mật độ đường (glucose) hơn ra khỏi máu và thực sự đốt cháy axit béo thay vì giữ chúng lại dưới dạng tế bào chất béo mới. Phương pháp này có thể được áp dụng vào năm 2010 hoặc muộn hơn một chút. (Ảnh 3)
Cảm cúm: chỉ cần một liều vaccine
Các chuyên gia về miễn dịch đang nhắm tới một mục tiêu mới: M2, một protein có trên bề mặt của virus gây cảm cúm. Một liều vaccine M2, theo như các nhà khoa học cho biết, có thể khống chế bất kỳ loại virus nào, kể cả virus chưa xuất hiện. Nhưng không giống như các vaccine khác, M2 không thực sự ngăn chặn sự truyền nhiễm. Nó hoạt động bằng cách tung ra ồ ạt những chất miễn dịch làm yếu đi tác động của bệnh cảm cúm, giúp người bệnh dễ dàng vượt qua các triệu chứng nguy hiểm như bệnh sốt vàng da hoặc mất nước. Chuyên gia miễn dịch học Walter Gerhard thuộc Học viện Wistar tại Philadephia nói rằng tiêm một mũi vaccine M2 sẽ làm tăng khả năng bảo vệ chống lại sự trầm trọng của bệnh cảm cúm. Những thí nghiệm sẽ bắt đầu vào năm 2007. (Ảnh 4)
Kết nối các tế bào thần kinh bị đứt lìa
Một nhóm khoa học gia đang phát triển một công nghệ giúp phát triển tế bào thần kinh, giúp bệnh nhân bị thương hay ốm mau chóng bình phục. Công nghệ này xoay quanh chuỗi axit béo độc lập có kích thước siêu nhỏ, chỉ bằng khoảng 1/1.000 kích thước tế bào máu. Bởi chuỗi axit béo có đặc trưng khác nhau, một số chuỗi mang tính tích cực, số khác mang tính tiêu cực, một số chuỗi rất thích nước, một số khác lại không tương thích với chính nó nên những chuỗi axit béo này tự kết nối lại với nhau thành một dãy cấu trúc. Tiêm cấu trúc này vào vùng não bị thương tổn, hàng triệu những lỗ tổ ong siêu nhỏ sẽ hình thành một lưới mà dọc theo đó các tế bào thần kinh có thể phát triển. Nhờ sự trợ giúp với vài liệu pháp khác, ví dụ chế độ thuốc men giúp kích thích sự phát triển tế bào thần kinh, những sợi thần kinh dài chứa tín hiệu điện tử sẽ kéo giãn ra và kết nối lại với nhau. Rutledge Ellis-Behnke tại Viện công nghệ Massachusetts đang tiến hành thử nghiệm trên động vật. Khi cắt rời dây thần kinh thị lực trong não của chuột và tiêm vào màng cấu trúc, ông nhận thấy tỉ lệ phục hồi thị lực trên chuột thí nghiệm đạt 75%. Ellis-Behnke hy vọng, kỹ thuật trên sẽ được sử dụng trong những ca phẫu thuật trên sẽ được sử dụng trong những ca phẫu thuật não, chữa lành khu vực thương tổn do phẫu thuật trong vòng tối đa 5 năm. Công nghệ này có thể áp dụng kể từ năm 1010. (Ảnh 5).
Tia sáng cho bệnh nhân liệt
Đây là một tin vui cho các bệnh nhân bị liệt do tổn thương dây thần kinh cột sống. Một thiết bị chạy bằng pin nhỏ được đặt vào bên trong cột sống trong vòng 18 ngày sau khi bị tai nạn có thể kích thích sự tăng trưởng mô thần kinh. Thiết bị do hãng Cyberkinetics tại Massachusetts chế tạo sẽ giúp cho bệnh nhân và cả những chú chó bị liệt có thể phục hồi một số cử động.
Mạnh Kim – Kiến thức ngày nay – Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2007

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *