TU HỌC VÀ TU HÀNH

album-art

00:00

TẢI MP3 – BÍCH HÀ

Bạn Thân Mến,

Tu học và tu hành là bốn chữ mà chúng ta nghe rất nhiều lần trong cuộc đời, nhưng tu học là gì và tu hành là gì? Chính là chủ đề của hôm nay, mà chúng tôi muốn mời bạn, hãy cùng chúng tôi quan sát và nhìn sâu.

Theo định nghĩa, Tu có nghĩa là: sửa, sửa chữa, trau giồi; Học là: nhận sự dậy dỗ của người khác; và Hành có nghĩa là: làm, việc làm, trải qua, di chuyển, v.v.

Như vậy, Tu Học có nghĩa là, nhận sự dậy dỗ của người khác để trau giồi, hay sửa chữa lại những cái chưa hay, chưa đúng của mình; và Tu Hành là sửa chữa lại những việc làm, nhưng hành động đã trải qua, mà chưa được đúng, hay chưa được đẹp.

Nếu chúng ta tách riêng bốn chữ tu học và tu hành ra, thì chúng ta còn lại ba chữ là: tu, học và hành.

Học thì ai trong chúng ta cũng phải học. Nếu nói rộng nghĩa hơn, thì không phải chúng ta chỉ học bằng sự dậy dỗ của người khác, mà đôi khi, chúng ta cũng chẳng cần ai dậy dỗ, chúng ta cũng học được qua sự quan sát và nhìn sâu.

Chẳng hạn, khi chúng ta nhìn một chiếc lá vàng rơi vào mùa thu, qua sự quan sát và nhìn sâu, chúng ta cũng có thể học được tính vô thường của vạn pháp. Chiếc lá không hề có ý định dậy dỗ chúng ta. Chiếc lá chỉ đang làm đúng bổn phận,

theo đúng quy luật của tự nhiên.

Nhưng qua chiếc lá vàng rơi, dưới sự quan sát và nhìn sâu, chúng ta lại học được bài học về tính vô thường, để khi, chúng ta có những niềm đau nỗi khổ, chúng ta có thể dùng bài học vô thường này, để giải quyết những khổ đau, và đạt được An.

Nếu chúng ta chỉ “cắm đầu” vào học không thôi, mà khi chúng ta có khổ đau, lại không ứng dụng được bài học đó, thì giá trị của bài học đó, chỉ là con số không, tròn trĩnh.

Cho nên, cái quan trọng không phải là chúng ta học được gì, hay học có thâm sâu không, mà quan trọng là, khi chúng ta ứng dụng qua hành, có đem đến đúng như kết quả chúng ta muốn hay không?

Nếu như, qua phần thực hành, mà không đem đến cho chúng ta kết quả nhưng lại đem đến cho chúng ta những hậu quả, thì chúng ta phải “tỉnh táo” để chỉnh sửa lại cái học của chúng ta.

Nói đến học thì có nhiều cách học. Phần đông chúng ta, thường dựa vào định nghĩa của chữ học, là phải có người dậy dỗ chúng ta, thì chúng ta mới gọi đó là học.

Cho nên, chúng ta nghĩ, muốn học thì phải đến trường, đến lớp, có thầy, có cô có bằng cấp để dậy dỗ cho chúng ta. Khi vào trường để học, thì chúng ta lại lệ thuộc vào sự phân chia thứ tự trước sau, để đánh giá trình độ học của một người.

Thí dụ, với trẻ năm sáu tuổi, thì bắt đầu từ lớp mẫu giáo, rồi lên lớp một, lớp hai, tiểu học, trung học, rồi đại học.

Người có bằng đại học thì trình độ học của họ cao hơn người trung học, và người có trình độ trung học thì cao hơn tiểu học v.v.

Từ đó, đưa chúng ta đến suy luận và tin rằng, nếu muốn giỏi thì phải học, mà muốn học thì phải có lớp, có trường. Nếu nơi nào, không có trường, có lớp, thì nơi đó, chúng ta sẽ không có gì để học.

Quan niệm này, đã khiến cho biết bao sinh viên, sau khi tốt nghiệp ra trường, rơi vào thế “lao đao”, khi tiếp xúc với những công việc trong trường đời.

Vì trong trường đời, thì học không phải chỉ thu gọn trong lớp, có thầy, có cô có bằng cấp dậy dỗ, mà trong trường đời, thì không có lớp, và ai cũng có thể là thầy cô, mà không cần bằng cấp.

Không những, chỉ có con người, mà ngay cả động vật, thực vật, hay những sự vận hành tự nhiên của trời đất, cũng trở thành thầy cô để dậy cho chúng ta những bài học, đáng giá nghìn vàng.

Không ít những nhà tiến sĩ (cấp cao nhất trong hệ thống giáo dục), khi ra trường đời, mới “bé cái lầm” rằng, thì ra, còn có muôn ngàn điều ở trường đời, mà họ vẫn còn chưa học được trong trường học.

Như vậy, không phải cứ tốt nghiệp trong trường học thì sẽ có đủ mọi kiến thức và cách ứng xử trong trường đời. Sự thật là, trường đời mới là trường mà con người phải học suốt cả một đời, mà vẫn không thể tốt nghiệp.

Cho nên, trong trường đời, đòi hỏi người học phải có sự

quan sát và nhìn sâu, để tiếp cận được với sự thật, nếu không, sẽ gây ra khổ đau cho người và cho mình, chứ không như trường học, là học để mở mang kiến thức.

Với một người nông dân, việc các nhà khoa học, du hành đến sao hỏa, hay sao kim, cũng chẳng có gì là quan trọng. Bởi vì, đối với người nông dân, bài học quan trọng nhất với họ, đó chính là đồng ruộng: lúa, đất, nước, phân.

Thiếu những bài học này, thì khổ đau sẽ có mặt ngay trong gia đình của họ. Con cái họ sẽ đói ăn, và tài chánh gia đình của họ sẽ trở nên “giật gấu vá vai”.

Có nhiều bạn sẽ cho rằng, nếu không có trường học thì làm sao có những kỹ sư để chế ra những máy móc, hay phân bón, để làm ra lúa gạo nhanh hơn.

Đồng ý với bạn là, với những máy móc và phân bón vô cơ mới, sẽ giúp cho quá trình phát triển của cây lúa nhanh hơn, và khi cầy cấy, hay thu hoạch, thì đỡ tốn công hơn. Nhưng sự thật cũng đã chúng minh rằng, chính những phân bón mới, giúp cây lúa trổ nhanh hơn, lại tạo ra những gen (gene) đột biến có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Các nhà khoa học có tự trọng, khi nghiên cứu qua lâm sàng đã đưa ra những chứng minh về sự tai hại khi tạo ra gen (gene) đột biến, và tiếng nói cảnh tỉnh của họ đã có không ít người hưởng ứng.

Những người tiêu thụ trong thời đại mới (new age), họ đòi hỏi những thực phẩm cung cấp cho họ, phải được trồng theo phương pháp hữu cơ (organic), và giá cả của thực phẩm hữu cơ thì cao gần gấp đôi so với giá do máy móc và những phát minh đột biến tạo ra, nhưng họ vẫn vui lòng tiêu thụ.

Như vậy, với nhà khoa học thì họ thích nghiên cứu học hỏi về không gian vũ trụ, nhưng ngược lại, người nông dân lại thích học về: lúa, đất, nước, phân.

Vậy thì cái học nào cao hơn cái học nào? Vốn dĩ, chẳng có sự học nào cao hơn sự học nào cả, mà là, sự học đó có giá trị hay không, mới là quan trọng. Nếu điều học đó, mà không thể đem ứng dụng được, thì điều học đó, trở nên vô dụng.

Bắt một khoa học gia xuống làm ruộng thì không khác gì, chúng ta đang bắt bỏ tù họ vậy, hay ngược lại, bắt bác nông dân lên điều khiển chiếc tầu vũ trụ thì lại khiến bác chết, không toàn thây.

Cho nên, trước khi học, chúng ta cần phải xác định rõ ràng chúng ta học gì, và chúng ta phải học như thế nào cho đúng cách.

Nếu không, chúng ta chỉ phí thời gian vào hý luận, mà khi gặp sự cố, thì chúng ta lại chẳng ứng dụng được gì cho việc chúng ta giải quyết vấn đề, hay sự cố, một cách chuẩn không cần chỉnh.

Sự thật đã chứng minh rất rõ ràng, cái chúng ta cần học thì vô hạn, nhưng sức học của chúng ta thì lại hữu hạn, chúng ta không thể đem cái hữu hạn để “đuổi theo” cái vô hạn được.

Chính vì vậy, chúng ta cần phải có sự lựa chọn trong cái vô hạn kia, xem cái học nào có thể giúp cho chúng ta giải quyết những vấn đề trong cuộc sống của chúng ta một cách toàn vẹn, không để lại những di chứng về sau.

Nếu chúng ta không cẩn thận lựa chọn, chúng ta không có mục đích rõ ràng, thì chúng ta sẽ học miên man, học lang bang, học trường kỳ, rồi cuối cùng, chúng ta chỉ ôm một mớ kiến thức vụn vặt, không đâu vào đâu cả.

Chúng ta vừa tốn tiền, vừa tốn thời gian, mà còn tạo ra biết bao cảm xúc/giác tiêu cực, khi không thể sử dụng mớ kiến thức đó vào đâu cho hợp lý.

Cho nên, khi học, chúng ta nên đặt cho chúng ta những câu
hỏi chính xác như:

  • Chúng ta học để làm gì?
  • Có đúng với mục đích của chúng ta không?
  • Có giúp cho chúng ta giải quyết vấn đề của chúng ta một cách trọn vẹn không?
  • Có đem đến an vui và hạnh phúc cho người và cho chúng ta không?
  • Có giúp cho chúng ta tiếp xúc được với sự thật không v.v.

Dĩ nhiên, chúng ta có thể đặt ra muôn ngàn câu hỏi, nhưng chỉ cần chúng ta hỏi chúng ta những câu hỏi như trên, cũng đủ giúp cho chúng ta xác định được, chúng ta nên học gì, và học ra làm sao cho có kết quả.

Khi đã lựa chọn xong những gì chúng ta muốn học, thì chúng ta đừng tin ngay vào những trải nghiệm, hay kinh nghiệm của những người đi trước, hay tiền nhân, mà chúng ta chỉ xem đó như là những thông tin, và bắt đầu từ những thông tin đó, chúng ta đi kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm, qua sự quan sát nhìn sâu vào bản thân của chúng ta, hay qua đối tượng, hay những hiện tượng.

Sau khi chúng ta đã trải qua những quá trình đó, và quá trình đó giúp chúng ta tiếp cận được với đúng sự thật, thì lúc đó chúng ta mới tin. Chúng ta chỉ nên tin vào kết quả, chứ không tin vào sự trải nghiệm hay kinh nghiệm của bất cứ một ai.

Nếu chúng ta làm được như vậy, thì những gì chúng ta học mới có giá trị, mới có chiều sâu, mới có sự tinh tế. Chính nhờ sự tinh tế và có chiều sâu này, mới giúp chúng ta giải quyết được những vấn đề của chúng ta một cách trọn vẹn.

Như vậy, khi thêm chữ tu vào trước chữ học, thành tu học, thì chúng ta mới biết, chúng ta cần sửa, hay sửa chữa cái gì trong qúa trình chúng ta học.

Nếu không thì chữ tu đặt vào đầu câu, cũng trở nên vô nghĩa, vì chính cái chúng ta học, chúng ta còn không hiểu chúng ta đang học gì, thì chúng ta làm sao biết chỗ nào sai đâu mà tu với sửa. Vậy nên, khi chúng ta sử dụng hai từ tu học chúng ta phải rất cẩn thận.

Ngày xưa, ở miền nam Việt Nam, những người kỹ sư cơ khí, muốn nâng cao trình độ về kỹ thuật máy móc, thì thường đi tu học tại các quốc gia tiên tiến về kỹ thuật như Mỹ, Anh hay Đức, v.v.

Có nghĩa là, họ đã học và biết về máy móc và kỹ thuật rồi, nhưng với những phát minh, hay những sự bổ sung trong kỹ thuật sửa chữa mới, họ chưa được cập nhật, cho nên, họ cần phải đến các quốc gia tiên tiến, học tiếp, để sửa chữa hay trau giồi thêm những kinh nghiệm trong ứng dụng.

Nhưng ngày nay, hai chữ tu học thường được gắn liền với tôn giáo. Mỗi tháng, ít nhất chúng tôi cũng nhận được hai ba lá thư gởi về, kêu gọi chúng tôi, ghi danh đi tham dự khóa tu, hay tu học, được tổ chức khắp mọi nơi, không những trong nước Mỹ, mà có khi, tới tận cả trời Âu.

Tu học về vật chất thì còn đỡ, vì chúng ta còn có vật để sờ, để mó, để chạm. Nhưng tu học về tâm linh, thuộc về vô hình, vô ảnh. Chúng ta không thể sờ hay mó vào được, mà chỉ nương tựa vào nhận thức và niềm tin của chúng ta.

Nếu như, những nhận thức hay niềm tin của chúng ta không may bị lệch lạc, mê mờ, thì chắc chắn, con đường tu học của chúng ta sẽ dần dần dẫn về ngõ cụt.

Cho nên, trước khi chúng ta muốn Tu thì chúng ta phải biết rất rõ mục đích của chúng ta học để làm gì. Chúng ta đã nắm rõ được những gì chúng ta học chưa? Nhận thức của chúng ta đã rõ ràng chưa?, và sự rõ ràng đó, chúng ta dựa trên tiêu chuẩn nào để đáng giá.

Đó chính là những nét căn bản của việc học. Sau đó, chúng ta mới dựa trên những căn bản đó, để tiếp tục trau giồi hay tu sửa lại những chỗ chưa đúng hay chưa chính xác.

Trong qúa trình tu sửa việc học này, chúng ta không phải chỉ dùng sư tư duy không mà thôi, mà chúng ta phải đem những điều chúng ta đang tu học ứng dụng trong thực hành. Chúng ta phải thực hành không những trên một góc độ, mà chúng ta còn phải thực hành trên nhiều góc độ.

Như vậy, bắt đầu từ học đến tu, rồi từ tu qua hành, và từ hành tiếp tục tu, rồi từ tu lại bắt đầu học. Qúa trình này gọi là quá trình tu học và tu hành.

Nếu muốn dễ hiểu hơn thì chúng ta sẽ đặt lại theo thứ tự

như sau: học, tu, hành, tu, học, v.v. Trong qúa trình tu hành và tu học này, chúng ta phải cần đến thêm ba yếu tố hỗ trợ khác, bao gồm: kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm.

Thiếu ba yếu tố này, thì chúng ta sẽ dễ phiêu lưu trong thế giới của suy luận, phỏng đoán, và tưởng tượng.

Khi mà chúng ta để nhận thức, hay niềm tin của chúng ta “dính” đến phỏng đoán hay tưởng tượng, thì nhận thức hay niềm tin của chúng ta sẽ không còn gần với sự thật, mà chúng ta đang bắt đầu rời xa sự thật.

Cho nên, trong qúa trình học hay hành thì chúng ta cũng phải luôn sử dụng ba yếu tố này. Được như vậy, thì việc chúng ta tu học hay tu hành mới có kết quả.

Còn nếu không, thì chúng ta chỉ phí thời gian cho cái học vô bổ, không những đã không giúp ích gì cho chúng ta trong việc tiếp cận sự thật, mà cái học đó, đôi khi lại trở thành một rào cản, một “nhà tù”, nhốt chúng ta vào trong những cuộc tranh luận, hay tranh cãi, gây nên sự thù hận, oán ghét, lẫn nhau.

Tệ hại hơn là, chúng ta tiếp tục “nâng cấp” sự tự tôn của chúng ta lên tận mây xanh, và xem như đó là một thành quả mà chúng ta đáng tự hào. Nhưng khi, có những vấn đề của chúng ta cần phải giải quyết tận gốc rễ, thì chúng ta lại trốn chạy, hay đè nén vấn đề đó xuống.

Tu học hay tu hành là một việc vô cùng cần thiết cho tất cả những ai muốn thăng tiến, muốn đạt được thành công hơn thất bại, dù trong cuộc đời hay đời sống tâm linh. Nhưng nếu chúng ta không cẩn thận trong việc tu học và tu hành thì chúng ta sẽ tạo ra những kiến chấp (chấp vào những kiến thức mà mình học được), những nhận thức sai lầm, sẽ gây ra khổ đau cho người và cho mình.

Có một người quen, anh rất tự hào về kiến thức mà anh học được trong kinh điển của đạo Phật, và anh thường cho rằng anh đã hiểu đúng với những gì đức Phật dậy, vì anh đã đi tu học với biết bao vị cao tăng. Cho nên, mỗi khi gặp anh, anh luôn dậy chúng tôi làm sao phát triển lòng từ bi và trí tuệ.

Theo lời anh “học lại” thì các vị cao tăng đã dậy:

“Từ bi là thương cao thượng bất vụ lợi, thương tất cả mọi loài không vì bản ngã của mình.

Còn trí tuệ được phân ra làm hai loại: Trí thế gian và trí xuất thế gian. Trí thế gian là thấy biết đúng tinh thần nhân quả, và Trí xuất thế gian là người biết rõ mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ, là cái nhân đưa tới đau khổ, thì tránh không làm, không nói, và không nghĩ.

Như vậy, từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.”

Khi nghe lời anh dậy cho chúng tôi, chúng tôi mới hỏi anh, thương cao thượng là gì, và thương bất vụ lợi ra sao, thì anh lại không giải thích được.

Nếu nói từ bi là thương cao thượng thì thương thế nào mới là thương cao thượng, và thương thế nào mới là không cao thượng. Quả thật, chúng tôi nghe xong, cũng không thể nào hiểu được, mà nếu chúng tôi không hiểu được thì làm sao chúng tôi hành.

Nếu chúng tôi không thể hành, thì có phải, những gì chúng tôi học, chỉ là một mớ kiến thức vô bổ, vì khi chúng tôi muốn phát khởi lòng từ bi, thì chúng tôi biết dựa vào đâu để thực hành.

Còn câu: “từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chảy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.” Có nghĩa là gì?

Nếu chúng tôi không biết được lòng từ bi, thì chúng tôi không thể có trí tuệ, đúng không? Bởi vì, từ bi là gốc rễ, nên mới có thể sinh ra hoa trái là trí tuệ. Nếu không có lòng từ bi thì sẽ không có trí tuệ.

Trong khi, qua thực nghiệm, kiểm nghiệm, và chứng nghiệm thì tuệ giác mới là gốc rễ để sinh ra hoa trái là từ bi. Nếu không có Tuệ Giác thì từ bi có thể sẽ dẫn đến khổ đau như thường.

Dĩ nhiên, ở đây chúng tôi không đem ra xét nét sự tu học hay tu hành của anh là đúng hay sai, mà chúng tôi chỉ muốn chia xẻ lại với bạn, khi chúng ta học một điều gì, thì chúng ta phải đem điều chúng ta học và thực hành ngay với sự kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm trên bản thân của chúng ta.

Chỉ khi, trải qua ba yếu tố đó, và kết quả ra đúng với định nghĩa đó, thì chúng ta mới tin vào định nghĩa đó, chứ không nên đi học thì nhiều, nhưng hành lại chẳng bao nhiêu. Đến khi có chuyện cần giải quyết thì chúng ta lại không hề sử dụng đến những gì chúng ta đã học.

CHO VÀ NHẬN

album-art

00:00

TẢI MP3 – ÁNH TUYẾT
TẢI MP3 – VIÊN NGUYỆT
TẢI MP3 – DAVID NGÔ

Bạn thân mến,

Thế nào là cho và nhận?

Cho ở đây mang nghĩa bao quát. Khi chúng ta yêu thương mọi người, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, cho đi tình cảm, tấm lòng, sẵn sàng vì người khác để khiến cho xã hội này tốt hơn.

Còn nhận ở đây là sự an lạc, hạnh phúc. Khi chúng ta cho đi, giúp đỡ, yêu thương người khác.

Cho và nhận là hai khái niệm tưởng chừng như đối lập nhau, vừa là vô hình vừa là hữu hình nhưng lại song hành với nhau trở thành những bài học quý giá cho mọi người.

Người sẵn sàng cho đi với mong muốn xã hội tốt hơn, mong cuộc sống của người bất hạnh tốt đẹp hơn mà không hề toan tính thiệt hơn hay mong được tư lợi.

Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải ai cũng sống với tình thương, sẵn sàng cho đi. Ngoài kia vẫn còn có nhiều người lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau khổ và sự bất hạnh của người khác, chỉ biết sống cho bản thân mình.

Mỗi ngày khi ta sống có ích, biết cách lắng nghe quan tâm người khác một chút thì chúng ta cũng sẽ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Xin mời các bạn nghe mẩu chuyện ngắn sau đây, hầu có thể cảm nhận được sự cho đi là gốc rễ của hạnh phúc.Với một trái tim rộng mở, bạn mới có thể đón nhận được yêu thương, và bạn có mỉm cười, bạn mới nhận được nụ cười đáp lễ.

Anna, 9 tuổi, là cô bé gầy gò đến từ một ngôi làng nhỏ. Em đã học đến năm lớp 4 tại làng của mình. Khi lên lớp 5, Anna đã chuyển sang học tại một ngôi trường ở thành phố lớn gần đó. Cô bé đã vô cùng hạnh phúc khi biết mình được nhận vào một ngôi trường khá danh tiếng trong vùng.

Ngày đầu tiên đi học. Anna đã đứng chờ từ rất sớm ở trạm xe buýt và lên ngay chuyến xe đầu tiên để di chuyển đến thành phố. Trên xe đến trường, em đã gặp rất nhiều bạn học, trông ai cũng gọn gàng, sáng sủa. Sau khi hỏi thăm đường đến lớp, cuối cùng cô bé cũng đã có mặt tại chỗ ngồi của mình trong niềm háo hức rộn ràng.

Tuy nhiên, đó không phải là một buổi học đầu tiên tuyệt vời như trong tưởng tượng của Anna. Khi vừa nhìn thấy em bước vào lớp, rất nhiều bạn học đã lập tức tỏ ý chế giễu, sau khi biết Anna đến từ một ngôi làng nghèo, và càng tỏ thái độ xem thường hơn, với bộ đồ cũ kỹ mà em đang mặc.

Sự ồn ào bàn tán chỉ kết thúc khi giáo viên chủ nhiệm đến, và yêu cầu cả lớp im lặng. Cô giới thiệu Anna và cho biết em sẽ bắt đầu học tại lớp này kể từ hôm nay.

Mọi chuyện bắt đầu khi cả lớp được yêu cầu làm một bài kiểm tra đột xuất. Với câu hỏi “Em hãy liệt kê ra 7 kỳ quan của thế giới”. Cả lớp đã nhanh chóng hoàn tất bài kiểm tra, ngoại trừ Anna.

Tất cả các học sinh khác đã có câu trả lời của mình một cách nhanh chóng, còn Anna thì không.

“Có chuyện gì vậy em. Đừng lo, chỉ cần viết những gì em biết, các bạn khác cũng chỉ vừa mới học cách đây vài ngày thôi.” – Cô giáo lo lắng hỏi Anna.

Anna trả lời:

“Cô ơi, em đang nghĩ về rất nhiều thứ và không biết mình phải chọn 7 nơi nào để viết cả…”

Chần chừ một hồi, Anna cũng hoàn thành đáp án của mình. Để kết thúc giờ kiểm tra, cô giáo chủ nhiệm đã công bố đáp án chính xác cho câu hỏi về 7 kỳ quan, đó chính là:

  1. Vạn lý trường thành,
  2. Đấu trường La Mã,
  3. Tháp nghiêng Pisa,
  4. Kim tự tháp Giza,
  5. Lăng Tajmahal,
  6. Vườn treo Babylon
  7. Bãi đá cổ Stonehedge.

Cô giáo chủ nhiệm rất hài lòng khi ai cũng dễ dàng vượt qua bài kiểm tra đơn giản này, cho đến khi chấm đến bài của Anna. Với riêng phần trả lời của Anna, cô đã ngạc nhiên và đọc lớn bài kiểm tra của Anna cho cả lớp cùng nghe.

Câu trả lời như sau: 7 kỳ quan của thế giới:

Kỳ quan thứ nhất: Có thể thấy

Kỳ quan thứ hai: Có thể nghe

Kỳ quan thứ ba: Có thể cảm nhận

Kỳ quan thứ tư: Có thể cười

Kỳ quan thứ năm: Có thể suy nghĩ

Kỳ quan thứ sáu: Có thể tử tế

Kỳ quan thứ bẩy: Có thể yêu thương

Từng chữ một trong câu trả lời thật thà của cô bé xuất thân từ ngôi làng bé nhỏ đã khiến toàn bộ học sinh trong lớp không nói lên lời.

Hôm nay, chính cô bé từng bị chế giễu hết lời đã mang đến cho các bạn đồng môn một bài học vô cùng quý giá về kỳ quan thật sự của cuộc sống.

Bạn thân mến,

Khi ta trao yêu thương cũng là lúc ta nhận lại hạnh phúc, xây dựng và nuôi dưỡng cho tâm hồn giàu đẹp. Cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi có sự chia xẻ, kết nối giữa con người với con người.

Đã bao giờ bạn tự hỏi rằng mình đã làm được gì cho người khác? Mình đã thực sự cho đi hay chỉ mong nhận về?

Xin hãy sống vì mọi người để cuộc sống này không đơn điệu và để trái tim có những nhịp đập yêu thương.

GIA ĐÌNH LÀ GÌ?

album-art

00:00

TẢI MP3 – BÍCH HÀ
TẢI MP3 – QUẢNG BẢO TÂM
TẢI MP3 – DAVID NGÔ

Bạn thân mến,

Người Mỹ đã dùng danh từ FAMILY, còn người Việt chúng ta thì gọi là GIA ĐÌNH.

Xin mời bạn đọc mẩu chuyện ngắn dưới đây để tìm hiểu giá trị của Family như thế nào nhé ! FAMILY là gì?

Một buổi sáng nọ, tôi đang đi bộ trên đường phố, và đụng phải một người lạ trên phố khi người này đi qua.

“Ồ ! Cho tôi xin lỗi”, tôi nói.

Người kia trả lời: “Cũng xin thứ lỗi cho tôi, tôi đã không nhìn cô”.

Chúng tôi rất lịch sự với nhau.

Nhưng ở nhà thì mọi chuyện lại khác. Tối nọ, lúc tôi đang nấu bếp thì cậu con trai đến đứng sau lưng. Tôi quay người và đụng vào thằng bé, làm nó ngã chúi xuống sàn nhà.

“Tránh ra chỗ khác”- tôi cau mày nói.

Con trai tôi bước đi, trái tim bé nhỏ của nó vỡ tan. Tôi đã không nhận ra là mình đã quá nóng nảy.

Buổi tối, đang mơ màng giấc điệp, tôi bổng nghe một giọng nói thì thầm:

“Khi đối xử với người lạ, con rất lịch sự. Nhưng với con của mình, con đã không làm như vậy.

Hãy đến tìm trên sàn nhà bếp, có những bông hoa đang nằm ở cửa. Đó là những bông hoa mà con trai con đã mang đến cho con. Tự nó hái lấy những bông hoa này: nào hoa hồng, màu vàng và cả màu xanh. Nó đã yên lặng đứng đó để mang lại cho con điều ngạc nhiên, còn con thì không bao giờ thấy những giọt nước mắt đã chảy đẫm lên trái tim bé nhỏ của nó”.

Lúc này thì tôi bật khóc. Tôi lặng lẽ đến bên giường con trai và quỳ xuống: “Dậy đi, con trai bé nhỏ, dậy đi. Có phải những bông hoa này con hái cho mẹ không?”.

Thằng bé mỉm cười: “Con tìm thấy chúng ở trên cây hồng ngoài kia. Con hái cho mẹ vì chúng đẹp như mẹ. Con biết là mẹ thích lắm, đặc biệt là bông hoa màu xanh”.

Bạn cảm thấy thế nào khi đọc xong mẩu chuyện ngắn này?

Giận dữ và yêu thương vốn không có giới hạn, hãy chọn YÊU THƯƠNG để có một cuộc sống của chúng ta được an lạc và hạnh phúc. Đồ vật được làm ra là để SỬ DỤNG và con người sinh ra là để YÊU THƯƠNG…. Vấn nạn của thế giới hôm nay thì ngược lại…. Con người bị SỬ DỤNG, còn đồ vật thì được YÊU THƯƠNG!!!

Thế bạn có biết từ family có nghĩa là gì không?

FAMILY = Father And Mother, I Love You

Xin chúc bạn cùng gia đình một ngày mới nhiều an lạc và hạnh phúc.

CƠ HỘI VÀ SỰ CHỜ ĐỢI

album-art

00:00

TẢI MP3 – MỴ HẰNG 
TẢI MP3 – HỒNG TRẦN
TẢI MP3 – DAVID NGÔ

Bạn thân mến,

Nói đến cơ hội. Ông bà xưa thường dạy bảo con, cháu rằng: “Có ba điểm chủ yếu trong một đời người, nếu để vuột khỏi tầm tay thì sẽ không bao giờ lấy lại được: “THỜI GIAN – LỜI NÓI – CƠ HỘI”, đủ cho chúng ta thấy vai trò của cơ hội trong cuộc sống thường nhật.

Cơ hội là sự xuất hiện những khả năng cho phép người ta làm một điều gì đó. Đó là thời điểm hội tụ một số điều kiện thuận lợi. Đồng thời những gì chúng ta có thể nắm bắt được nhằm làm thay đổi cuộc sống của chúng ta trong mai hậu.

Trong cuộc sống, con người có nhiều cơ hội để nắm bắt nhằm thực hiện một kế hoạch, một mục đích làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, không phải ai cũng phát hiện cơ hội và nắm bắt cơ hội cho chính mình. Nhìn ra cơ hội đã là việc khó nhưng tận dụng được nó còn khó hơn nhiều.

Giáo sư vật lý nổi tiếng George Gate muốn tìm một phụ tá cho mình khi nghiên cứu về lĩnh vực truyền điện tín. Ông đăng báo tuyển phụ tá.

Ngày hôm ấy, căn phòng chờ đợi rất nhiều ứng viên đến dự tuyển. Mọi người đều chọn cho mình những bộ quần áo sang trọng bậc nhất, nghiên cứu hàng chục cuốn sách về MORSE code trước khi đến phỏng vấn. Họ đều phải chờ ở phòng chờ đợi cho đến khi được vị giáo sư mời vào phỏng vấn.

Trong khi chờ đợi, họ tán gẫu và cố gắng phô trương những kiến thức của mình. Chỉ có một chàng trai trẻ ngồi yên lặng chú tâm quan sát phòng làm việc của George Gate. Anh đã theo dõi từng chi tiết những công trình nghiên cứu trước đó của vị giáo sư này và rất muốn góp sức với ông.

Nhiều giờ trôi qua, cửa phòng thí nghiệm vẫn đóng im lìm. Phòng chờ đợi vẫn ồn ào những tiếng bàn cãi sôi nổi. Bỗng nhiên, chàng trai vẫn ngồi im lặng từ đầu đến giờ, khẽ mỉm cười. Đứng dậy và bước vào phòng thí nghiệm của giáo sư.

Cánh cửa không hề khóa. Thoạt đầu họ nhìn chàng trai với ánh mắt thương hại vì cho rằng anh ta không đủ kiên nhẫn chờ đợi và định xin bỏ cuộc. Nhưng không lâu sau, tất cả mọi người đều bất ngờ khi thấy giáo sư George từ phòng thí nghiệm bước ra cùng chàng trai trẻ.

– Xin cảm ơn mọi người đã đến đây, nhưng tôi đã tìm được người trợ lý thực sự có năng lực cho mình rồi. – Vị giáo sư chỉ vào chàng trai.

Mọi người hết sức ngỡ ngàng trước quyết định của vị giáo sư. Họ đã phải chờ đợi rất lâu, vậy mà thậm chí không có cả một cơ hội để chứng tỏ khả năng của mình.

Giáo sư chậm rãi giải thích:

– Các bạn đã không để ý nhưng ngay từ khi mọi người bước vào đây, máy điện tín của tôi đã liên tục đánh một dòng thông báo bằng tín hiệu như thế này: “Nếu bạn giải mã được lời nhắn này, hãy bước vào gặp tôi”.

Tôi biết mọi người ở đây đều rất giỏi nhưng chỉ có một cơ hội và người biết tập trung vào mục tiêu chính khi đến đây đã giành được cơ hội đó.

Chàng phụ tá trẻ đó chính là Thomas Edison, người đã góp phần làm thay đổi thời đại của chúng ta. Cơ hội dành cho tất cả mọi người. Nhưng chỉ những người có đủ sự tập trung và nhạy bén mới đọc và hiểu được thông điệp của nó.

Bạn thân mến !

Cuộc đời thì hạn hữu, còn thời gian thì vô hạn, khi dừng lại chúng ta sẽ bị bỏ lại phía sau. Thời gian không chờ đợi một ai, thời gian trôi qua không bao giờ trở lại, chính vì vậy chúng ta đừng nên chờ đợi.

Cuộc đời của chúng ta là do chúng ta quyết định. Mỗi người đều có ưu điểm và lợi thế của riêng mình, điều quan trọng là chúng ta phải vận dụng ưu điểm và thời gian của mình để tạo thành cơ hội cho chính mình.

Vậy, bạn còn chần chờ gì nữa. Đừng chờ đợi, hãy nắm lấy cơ hội cho chính mình.

LẬP PHÁP VÀ HÀNH PHÁP

album-art

00:00

TẢI MP3 – THẢO MY

Bạn Thân Mến,

Bạn đừng thấy, chủ đề hôm nay của chúng tôi có những chữ như: lập pháp và hành pháp, thì bạn nghĩ, chúng tôi sẽ chia xẻ với bạn về chủ đề liên quan đến chính trị nhé.

Không đâu, chúng tôi chỉ là những người rất bình thường. Chúng tôi thích sống với sự quan sát và nhìn sâu vào trong cuộc sống, thích học và hành qua thực nghiệm, và trải nghiệm, để kéo dài cái An trong cuộc sống của chúng tôi, hơn là làm chuyện quốc gia đại sự.

Ông bà xưa có dậy rằng: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, chúng tôi thấy, nội việc “tề gia” mỗi ngày, chúng tôi đều phải: vừa học, vừa hành, vừa chỉnh sửa liên tục, còn chưa xong, thì làm sao có đủ hùng tâm tráng trí, mà trị quốc hay bình thiên hạ được.

Cho nên, tuy chủ đề là lập pháp và hành pháp, nhưng câu chuyện của chúng tôi muốn chia xẻ với bạn hôm nay, liên quan đến một người quen, khi anh đến thăm nơi sinh hoạt về tâm linh của chúng tôi, và bốn chữ lập pháp và hành pháp từ đây mà có.

Anh tự giới thiệu, anh là một trong năm đại đệ tử của một vị cao tăng, rất nổi tiếng, của Phật giáo. Trong năm người, vì anh có trí nhớ tốt, nên thường được đi theo vị cao tăng thuyết pháp, ghi nhớ lại, và sau đó, viết và ấn bản thành kinh sách.

Thế nên, khi nói về kinh điển của Phật giáo, thì kinh điển nào anh cũng làu thông, và ghi nhớ rất rõ ràng. Những người quen biết anh, đặt cho anh một biệt danh là “tàng kinh các”, nghĩa là, nơi lưu giữ những kinh điển của Phật giáo, hay có thể gọi là, thư viện kinh điển của Phật giáo.

Ngày anh gặp chúng tôi, thì anh đã sử dụng ngay “sở trường” của anh để thuyết cho chúng tôi nghe về tính vô thường, vô ngã của đạo Phật. Chúng tôi vẫn im lặng ngồi nghe anh, thao thao bất tuyệt, trong hai tiếng đồng hồ.

Cuối cùng, anh hỏi chúng tôi, có hiểu được sự mầu nhiệm của ý kinh, không thể nghĩ bàn của đức Phật, không?

Lúc đó, chúng tôi mới lên tiếng, trả lời anh:

Thưa anh, anh thì đang “lập pháp”, còn chúng tôi thì đang “hành pháp”, cho nên, chúng tôi không hiểu gì cả.

Anh nghe câu trả lời “trật bàn đạp” của chúng tôi, anh không vui mấy, vì không vô đúng chủ đề của anh muốn, là phải thán phục sự làu thông kinh điển của anh. Cho nên, anh quyết định “bắt bẻ” chúng tôi đến cùng. Anh nhìn chúng tôi một lúc, rồi nói:

“Chúng ta đang nói về kinh điển của một bậc Y Vương, thị hiện xuống cõi trần, để cứu độ muôn loài, mà sao bạn lại lái qua đề tài chính trị.”

-Thưa anh, chúng tôi đâu có đổi chủ đề, chúng tôi cũng đang nói về chủ đề tôn giáo đấy chứ. Chúng tôi đáp.

“Sao, đề tài về tôn giáo ư, tôi thì chỉ thấy liên quan đến chính trị, nếu không thì lôi lập pháp và hành pháp vào làm gì.” Anh nói.

– Thưa anh, không phải trong đạo Phật, khi nói về vô thường hay vô ngã thì đó gọi là pháp sao. Anh thì cứ lập đi lập lại những phương pháp của đức Phật, nhưng anh lại không chia xẻ về cách anh thực hành, cách anh trải nghiệm, cách anh thực nghiệm như thế nào.

Cho nên, chúng tôi mới gọi anh là “lập pháp”, nghĩa là, anh chỉ lập đi lập lại những kinh nghiệm, những trải nghiệm hay những phương pháp của người khác, mà không phải là của chính anh.

Còn chúng tôi, gọi chúng tôi là hành pháp, bởi vì, khi chúng tôi học được điều gì, hay phương pháp nào, thì chúng tôi sẽ bắt đầu thực hành ngay điều đó, qua sự kiểm nghiệm, thực nghiệm, và chứng nghiệm.

Sau đó, chúng tôi đúc kết lại thành những kinh nghiệm riêng cho chúng tôi dùng trong cuộc sống, và chia xẻ lại phương pháp này với những ai, khi họ cần đến, để ứng dụng trong cuộc sống của họ.

Khi hướng dẫn hay chia xẻ cho họ, chúng tôi luôn nhấn mạnh đến yếu tố, đừng tin vào phương pháp của chúng tôi, mà chỉ nên tin vào kết quả mà họ đạt được, khi đã trải qua sự kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm của chính họ.

Với chúng tôi, chân lý chỉ thật sự là chân lý, khi có mặt của sự kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm, giúp cho chúng tôi tiếp xúc được đúng với sự thật.

Cho nên, với chúng tôi, người nào mà có những trải nghiệm này, thì chúng tôi gọi người đó là người “hành pháp – thực hành các phương pháp”, còn người nào, mà chưa trải qua, nhưng lại hay nói về những phương pháp, thì chúng tôi gọi là người “lập pháp – lập đi lập lại những phương pháp nhưng chưa bao giờ thực hành”.

Anh nghe xong biến sắc một chút, rồi nói:

“Thật lòng mà nói, nếu bạn có thể làm được như vậy, thì ngay cả các bậc cao tăng cũng ít có vị làm được.”

Sau đó, anh kiếu từ ra về. Tiễn anh về xong, chúng tôi mới nghĩ, công việc mà chúng tôi đang học và đang hành thì đâu có gì là khó đâu. Ai cũng có thể làm được, sao các bậc cao tăng lại không làm được.

Với chúng tôi, dù là người thường, hay cao tăng, thì ai tu, nấy hưởng. Các vị cao tăng tu thì các vị đạt được sự giải thoát và có được sự An Lạc cho các vị, còn chúng tôi tu thì chúng tôi cũng đạt được sự giải thoát và bình an như các vị, cũng là việc rất bình thường.

Bởi vì, sự An Lạc và giải thoát đều có sẵn nơi mỗi người, không phải do bất cứ ai ban tặng, hay thần linh nào ban bố, mà chỉ khác nhau là trong phương pháp học và hành mà thôi.

Nếu như khi học mà học cho nghiêm túc, học cho đến nơi đến chốn, học không câu chấp, học hiểu ý quên lời. Nhất là đi tìm định nghĩa cho rõ ràng.

Sau đó, thì đem những điều học đó vào thực hành ngay trong cuộc sống mỗi ngày. Trong quá trình thực hành, thì bắt đầu bằng cách, đem những điều học hỏi được để kiểm nghiệm lại, nghĩa là, kiểm nghiệm lại xem, từ lý thuyết đến thực hành có đúng không, hay có sự sai biệt nào không. Nếu có, thì sai biệt thế nào, và nếu không, thì có thể ứng dụng trên góc độ nào, và không thể ứng dụng trên góc độ nào.

Kế tiếp, là qua qúa trình thực nghiệm. Qúa trình thực nghiệm là quá trình đem những điều học, sau khi qua sự kiểm nghiệm, ứng dụng vào trong những môi trường và hoàn cảnh, hay cuộc sống, dưới sự quan sát và nhìn sâu của từng góc độ.

Trong qúa trình này, thì phải liên tục chỉnh sửa lại những điều thiếu sót, hay bổ sung thêm vào lý thuyết những điều chưa có, để tránh gây ra sự lầm lẫn, hay hiểu lầm.

Cuối cùng là chứng nghiệm. Qúa trình chứng nghiệm là qúa trình đem những kết quả của thực nghiệm, bổ sung hay sửa sai, đi so sánh lại với những kinh nghiệm của những người trải nghiệm khác, xem có những sự tương đồng hay dị biệt nào.

Nếu là tương đồng không có dị biệt, thì giữ lại để sử dụng, và khi sử dụng, thì biến thành thói quen, để có thể dễ dàng ứng phó, khi có những sự cố xẩy ra qúa nhanh, đến độ Ý Thức chưa kịp tìm ra cách giải quyết.

Nếu có dị biệt, thì dị biệt trên góc độ nào, và dị biệt đó có còn thích hợp, và đúng với môi trường hay hoàn cảnh trong hiện tại hay không? Nếu những dị biệt, mà không còn thích hợp thì loại những dị biệt đó ra, mà không cần quan tâm đến.

Thí dụ như, trong kinh điển nguyên thủy của Phật giáo, hoặc Ma Ha Bà La Đa thứ 12 do hòa thượng Thích Quảng Độ dịch, cho rằng:

“Đao Diệp Lâm Địa Ngục, là nơi đi đến của những người bỏ kinh Vệ Đà để chạy theo những đạo khác, và những người này gọi là kẻ mê tín dị đoan”

Tuy điều này, được ghi lại trong kinh điển có cả ngàn năm của Ấn Độ giáo, cũng như của Phật giáo, nhưng không có nghĩa là, kinh điển đã hợp lý.

Trong khi ngày nay, giáo dân của Thiên Chúa giáo đã có hơn cả tỷ người, mà những giáo dân của Thiên Chúa giáo, không hề biết, hay tin, vào kinh Vệ Đà, vậy họ đều bị đọa vào địa ngục “Đao Diệp Lâm” sao?

Như vậy, cho dù, đó là điểm khác biệt so với quá trình chứng nghiệm, nhưng dị biệt này không còn thích hợp, và cũng không đúng với sự thật, nên dù, có viết trong kinh điển ngàn năm, chúng tôi vẫn loại bỏ như thường.

Với chúng tôi, không phải, cứ có trong kinh điển ngàn năm là có giá trị, mà phương pháp chỉ có giá trị khi đem ứng dụng, hay khi thực hành, phải đem đến sự giải thoát hay đạt được An kéo dài. Nếu không thì cũng không ích lợi gì.

Còn với những dị biệt, mà sau khi qua kiểm nghiệm, và thực nghiệm lại, thấy hợp lý, hay đúng hơn, thì chúng tôi lại tiếp tục sửa sai, rồi thực hành lại, cho đến khi ra kết quả, mà không phải là hậu quả.

Khi đã chứng thực được, qua cách ứng dụng trên những góc độ khác nhau, mà đều đưa những kết quả giống nhau, thì mới tổng hợp lại, và lập thành một phương pháp để ứng dụng, cũng như, chia xẻ phương pháp này với những người khác, khi họ cần đến sự giúp đỡ.

Đây chính là chỗ khác biệt giữa người “lập pháp” và “hành pháp”. Trong khi, người lập pháp thì chỉ thích lập đi lập lại những phương pháp mỗi ngày, nhưng không thực hành phương pháp đó.

Còn người “hành pháp” thì không lập đi lập lại những phương pháp đó, mỗi ngày, mà họ chỉ sử dụng những phương pháp đó, trong qúa trình thứ ba là chứng nghiệm, để so sánh và rút ra những sự tương đồng hay dị biệt qua qúa trình trải nghiệm của họ.

Về niềm tin, thì người “lập pháp” có thể tin vào những kinh nghiệm của những người đã trải nghiệm qua, mà không cần qua qúa trình kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm của bản thân.

Nhưng với người “hành pháp” thì những phương pháp của những người trải nghiệm khác, chỉ là những thông tin, và cần qua qúa trình kiểm nghiệm, thực nghiệm và chứng nghiệm của bản thân, khi tiếp xúc được với sự thật.

Với những người “hành pháp”, họ chỉ tin, khi họ tiếp xúc được với sự thật, và họ chỉ tin vào sự thật, chứ họ không tin vào những thông tin, hay kinh nghiệm của người khác. Tại sao?

Vì, kinh nghiệm của mỗi cá thể trước khi tiếp xúc với sự thật đều khác nhau, cho nên, không thể lấy kinh nghiệm của người đã trải nghiệm, làm kinh nghiệm chuẩn, dùng chung cho tất cả mọi người được.

Hãy lấy một thí dụ làm minh họa.

Huế là một địa danh có những thắng cảnh đẹp, có một người đang sinh sống ở miền Bắc, và người đó đi từ Bắc vào Huế (từ trên đi xuống, theo địa lý). Sau khi đến Huế về, người đó đem kinh nghiệm của anh, vẽ thành lộ trình để hướng dẫn cho những ai, muốn thưởng thức cảnh đẹp của Huế, có thể đến Huế để thưởng thức.

Dĩ nhiên, nếu bạn là người đang sống ở miền Bắc thì bạn có thể ứng dụng theo lộ trình này. Nhưng nếu bạn đang sinh sống trong miền Nam, mà bạn ứng dụng lộ trình này, thì bạn không thể nào đến được Huế, mà bạn lại có thể đến Thái Lan không chừng.

Thái Lan thì chắc chắn không phải là Huế rồi, và đó là sự thật. Nhưng vì bạn qúa tin tưởng vào kinh nghiệm của người ở miền Bắc, Bạn tin rằng. người đó đúng là người trải nghiệm, không phải là người giả mạo. Nhưng bạn lại quên mất một điều vô cùng quan trọng, đó là bạn đang ở đâu.

Không sai, người trải nghiệm ở miền Bắc chỉ dẫn rất cặn kẽ, rất rõ ràng, nhưng những sự trải nghiệm đó, chỉ có giá trị khi bạn biết rất rõ ràng, là bạn đang ở miền Bắc, chứ không phải bạn đang ở miền Nam.

Nếu bạn thật sự đang ở miền Nam, mà lại tin theo sự hướng dẫn đó, và kiên trì đi theo lộ trình đó, thì bạn sẽ chẳng bao giờ đến đúng được địa danh mà bạn muốn đến.

Tệ hại hơn là, khi bạn đến được Thái Lan, mà bạn lại cứ khăng khăng khẳng định, đó là Huế, vì bạn đã đi, và làm đúng với lộ trình mà người trải nghiệm kia đã chia xẻ lại, và bạn đã tin là đúng.

Trong khi, Huế đích thực, thì càng xa bạn hơn, vì bạn đã đi chệch hướng, lộn đường.

Còn một người có kinh nghiệm về địa lý , thì họ biết, họ đang ở đâu, và Huế đang ở đâu, so với chỗ của họ. Tuy họ chưa đến Huế, chưa biết phong cảnh của Huế đẹp như thế nào? Nhưng có một điều, họ biết chắc chắn, là họ không thể dựa vào lộ trình của người trải nghiệm ở miền bắc để đi theo.

Họ phải đi theo lộ trình do chính họ tìm ra (từ dưới đi lên, theo địa lý), và họ chỉ sử dụng sự trải nghiệm của người miền Bắc, khi cần phải xác định địa điểm họ đến, có giống như người trải nghiệm đã tả về phong cảnh của Huế hay không?

Khi họ đã tiếp xúc và đến được Huế, đúng như những gì mà người từng trải ở miền Bắc đã diễn tả, thì họ mới tin là họ đã tìm đúng địa danh, mà không có sự tưởng tượng hay phỏng đoán nào cả.

Câu chuyện này, ai nghe xong cũng biết được, ai đi đúng hướng, ai đi chệch đường. Nhưng trên thực tế, chúng ta đang là người ở miền nam, nhưng vẫn đang kiên trì đi theo lộ trình do người miền bắc hướng dẫn.

Chúng ta càng đi, thì chúng ta càng xa rời sự thật, nếu chúng ta chỉ thích “lập pháp” hơn là “hành pháp”.

NHẬN LỖI

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRẦN THIỆN TÍCH 
TẢI MP3 – TÂM TỪ
TẢI MP3 – CHÂN TRÚ LẠC
TẢI MP3 – DIỆU LIÊN

Bạn Thân Mến,

Nói đến hai chữ nhận lỗi là nói đến một việc gì đó, mà chúng ta đã nói hay làm, nhưng không đúng với một ai đó, hay với chính mình, khi đã vượt qúa những ranh giới mà chúng ta đã quy định.

Nhận lỗi là một chủ đề lớn, mà rất nhiều các nhà hiền triết trên thế giới, đã cố gắng trao truyền và giảng giải cho con người, từ xưa cho đến nay. Các Ngài đang cố gắng tận hết sức mình để giúp người, giúp đời. Nhưng cho đến nay, muốn nói đến hai chữ “nhận lỗi” thì không ít người trong chúng ta vẫn cảm thấy đó là việc vô cùng khó khăn để thực hiện. Vì sao?

Vì, khi chúng ta nhận lỗi với một ai đó, cũng đồng nghĩa với việc, chúng ta đã làm sai điều gì, hay chúng ta đã tin sai, nên mới đưa đến hành động hay lời nói sai.

Nói sai hay làm sai thì cũng chẳng có gì là to tát cả, nhưng điều đó sẽ trở nên to lớn, khi lời nói, hay hành động sai, trong Ngã Thức của chúng ta, bắt đầu khích hoạt những vùng cảm xúc/giác như: xấu hổ, mất mặt, tự ty, tự tôn, v.v.

Khi những nguồn cảm xúc/giác này bắt đầu “khống chế” Ngã Thức của chúng ta, và sử dụng Ý Thức để làm công cụ “biện minh” cho lời nói, hay hành động sai, thì lúc đó, cho dù, qua sự phân tích của Ý Thức, có biết là chúng ta sai, nhưng nguồn năng lượng tiêu cực nêu trên, nhất là nguồn năng lượng của tự tôn sẽ không bao giờ cho Ngã Thức của chúng ta chấp nhận, chúng ta sai.

Chính vì vậy, tuy học thuyết “nhận lỗi” rút gọn từ “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” đã có cả ngàn năm, nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta chịu thực tập.

Chúng ta chỉ thích ca tụng, tán thưởng, những câu danh ngôn như trên; chúng ta chỉ thích lý luận để phô trương kiến thức và sự hiểu của mình, nhưng tai hại nhất là, chúng ta lại không chịu thực hành.

Các nhà hiền triết đã bỏ ra bao tâm huyết, bao trải nghiệm, để rút tỉa ra phương pháp cho chúng ta thực hành, chứ không phải, để “tô hồng” thêm cho kiến thức của chúng ta.

Nếu chúng ta khi học những câu danh ngôn này, mà chỉ học để “tô hồng” thêm cho kiến thức của chúng ta, thì há chẳng phải là, chúng ta đang lãng phí đi những tinh hoa mà cha ông của chúng ta đã tích lũy hay sao.

Danh ngôn ngày nay thì lan tràn trên internet. Đâu đâu cũng thấy nhan nhãn nhưng câu danh ngôn, được trang hoàng lộng lẫy trên những nền rất đẹp, và đăng đầy rẫy trên những diễn đàn, hay mạng xã hội.

Người đăng có khi bỏ công ra trang trí những câu danh ngôn, hay đi sưu tầm những câu của người khác làm, rồi đăng lên trên mạng xã hội, mỗi ngày, mỗi giờ. Nhưng nếu chúng ta hỏi người đăng, có Biết những gì họ vừa đăng, và có thực hành theo những điều đó không, thì chắc chắc, câu trả lời là: Không.

Vậy thì, cho dù những câu danh ngôn có hay bao nhiêu, có

nhiều bao nhiêu, thì có ích lợi gì. Hay, cho dù, kiến thức của chúng ta có cao bao nhiêu, có thuộc lòng bao nhiêu, thì cũng thành vô dụng. Vì sao?

Vì khi chúng ta gặp vấn đề cần phải giải quyết, thì chúng ta chẳng có chút xíu kinh nghiệm nào để sử dụng cả.

Mớ kiến thức mà chúng ta tự hào, huyên thuyên, khi chưa có vấn đề kia, chẳng giúp ích gì cho chúng ta trong việc giải quyết vấn đề của chúng ta một cách rốt ráo; và khi giải quyết vấn đề, thì chúng ta cũng chẳng sử dụng đến những câu danh ngôn mà chúng ta đã tán tụng, ngợi khen.

Sự thật là, nếu chúng ta nghiêm túc thực hành, thì đôi khi, chỉ một câu danh ngôn, cũng khiến chúng ta phải dành cả một đời mới thực hiện được.

Cho nên, chúng ta không cần thiết phải đi sưu tầm cả ngàn câu danh ngôn để làm gì. Chỉ cần, chúng ta chọn một câu mà chúng ta tâm đắc nhất, và đi thực hành câu đó, cho đến khi đạt được kết quả mới thôi. Như vậy, xem ra có lợi ích cho chúng ta nhiều hơn là, hiểu cả ngàn câu, nhưng không biết câu nào cho ra hồn.

Trở lại chủ đề “Nhận Lỗi” hay “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Tiên trách Kỷ, có nghĩa là, trước tiên hãy trách mình (kỷ), còn Hậu trách Nhân, nghĩa là, sau đó (hậu) mới trách người (nhân).

Trách mình thì trách gì đây? Chữ Trách là động từ, theo định nghĩa là: vạch ra và tỏ ý chê bai, bắt lỗi, đổ thừa chỗ sơ hở của người khác.

Khi học định nghĩa này trong cuốn Việt Nam Tự Điển của

tác giả Lê Văn Đức, chúng tôi thấy có chỗ không ổn, thí dụ như: “đổ thừa chỗ sơ hở của người khác” chẳng hạn. Nếu dùng định nghĩa vào câu, “tiên trách kỷ”, có nghĩa là, trước tiên, chúng ta nên đi đổ thừa chỗ sơ hở của người khác, trước khi nói về lỗi của mình.

Nếu định nghĩa là như vậy thì đây không thể nào là câu danh ngôn được, vì hành động đó, không được đẹp chút xíu nào, mà còn dậy chúng ta nên trốn tránh trách nhiệm, không cần gánh lấy hậu quả do chính chúng ta gây ra.

Cho nên, ngay cả khi học trực tiếp từ trong tự điển thì chúng ta cũng phải rất cẩn thận khi xem phần giải nghĩa có đúng không.

Chẳng hạn định nghĩa chữ trách như trên, nhưng khi chúng ta nói hai từ: trách nhiệm (cũng là động từ) thì lại mang một ý nghĩa khác, là gách vác công việc (nhiệm) và nhận mọi hậu quả hay kết quả từ công việc ấy.

Như vậy, chữ trách trong trách nhiệm, lại mang một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược với định nghĩa của chữ trách là đổ thừa lỗi sơ hở của người khác.

Thế nên, khi chọn lựa câu danh ngôn này để thực tập trong đời sống hàng ngày, chúng tôi lại diễn dịch chữ “trách” thành nhận lỗi và xét lỗi.

Qua sự diễn dịch này, chúng tôi thấy định nghĩa của chữ “trách”, có thể ứng dụng được cho câu danh ngôn “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, và hai chữ trách nhiệm khá chính xác, có nghĩa là, trước tiên nhận lỗi về mình, rồi sau đó mới đi xét lỗi người.

Chữ xét ở đây có nghĩa là nghiệm lại, suy nghĩ lại, tìm ra lẽ phải. Và với hai từ “trách nhiệm” thì nhờ chúng ta nhận ra lỗi gây ra hậu quả, nên chúng ta mới gánh chịu hậu quả.

Khi diễn dịch lại định nghĩa xong, chúng tôi mới đem câu danh ngôn thực tập vào trong đời sống hàng ngày. Trong qúa trình ứng dụng này, chúng tôi lại thấy, khi chúng tôi đã nhận lỗi về mình, thì chúng tôi cũng chẳng cần phải suy xét về lỗi của người kia để làm gì.

Vì trong cách ứng xử của hai người, nếu như một người đã có lỗi và nhận lỗi thì người kia đương nhiên trở thành vô tôi hay không có lỗi.

Cho nên, chúng tôi rút gọn cả câu danh ngôn “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” lại, chỉ còn hai chữ “nhận lỗi” là vậy.

Vậy thì, khi chúng ta nhận lỗi về chúng ta, thì chúng ta sẽ có được những lợi ích gì?

Khi chúng ta biết nhận lỗi về chúng ta, thì chúng ta có được ít nhất 8 điều lợi lớn như sau:

Thứ nhất: Chúng ta sẽ sửa sai và ít khi tái phạm vào những sai lầm đó thêm lần nữa.

Thứ hai: Chúng ta sẽ không phải chịu sự khổ đau lâu dài, vì chờ đợi người kia nhận lỗi hay tha thứ cho chúng ta.

Thứ ba: Chúng ta có nhiều cơ hội hơn để hiểu về chính chúng ta.

Thứ tư: Chúng ta dễ dàng tha thứ cho chính chúng ta.

Thứ năm: Chúng ta luôn được người khác quý mến hơn, vì chúng ta luôn là người chấp nhận lỗi về chúng ta.

Thứ sáu: Chúng ta sống có tự chủ hơn, có thể tự giải quyết vấn đề hay khổ đau của chúng ta mà không lệ thuộc vào ai.

Thứ bẩy: Chúng ta là người có dũng khí và đảm lược nên chúng ta sẽ dễ thành công hơn.

Thứ tám: Nơi nào có mặt của chúng ta là nơi đó có hạnh phúc, bình an.

Thứ nhất: Chúng ta sẽ sửa sai và ít khi tái phạm vào những sai lầm đó thêm lần nữa.

Không cần phải bàn rộng về việc này, vì ai trong chúng ta, khi chịu nhận lỗi và chịu sửa sai lỗi của mình, thì chúng ta sẽ ít tái phạm vào cùng một lỗi, hay những lỗi tương tự.

Dĩ nhiên, cũng có nhiều khi chúng ta lại tái phạm, và những lần tái phạm như thế, thường lương tâm của chúng ta sẽ khiển trách chúng ta, và chúng ta cũng biết được, chúng ta đã làm sai và có lỗi, chứ không như trường hợp, chúng ta không nhận sai, hay thấy không có lỗi. Vì sao?

Vì lúc đó, Ngã Thức của chúng ta sẽ “chống đối kích liệt” và sẽ loại bỏ những phân tích của Ý thức, khi cho rằng, chúng ta sai hay Ngã Thức sai.

Cho nên, nếu chúng ta cần bàn, thì chúng ta nên bàn xem, cách thức nào, để chúng ta sẽ không thể tái phạm thì hay hơn.

Vậy làm sao chúng ta có thể đạt được sửa sai một lần mà dùng cả đời?

Muốn làm được điều này, thì chúng ta phải biết được, gốc rễ của lỗi lầm mà chúng ta gây ra từ đâu? Nếu chúng ta không thể biết được gốc rễ, mà chỉ nhận lỗi “trên ngọn”, thì khi gốc rễ phát triển, hoa trái của lỗi lầm mà chúng ta không muốn thấy, hay có, sẽ tiếp tục trổ ra.

Cho nên, việc đi tìm ra gốc rễ của vấn đề là quan trọng nhất, và phương pháp cũng như cách ứng dụng của việc tìm ra gốc rễ của vấn đề, đã được chúng tôi trình bầy trong rất nhiều bài viết.

Nếu cần tóm gọn thì đây là bốn bước:

  1. Xác định mình có lỗi
  2. Nguyên nhân tạo ra lỗi
  3. Phương pháp giải quyết lỗi
  4. Thời gian giải quyết lỗi

Chỉ cần chúng ta thực tập phương pháp bốn bước này, chúng ta có thể giải quyết được lỗi của mình, và làm sao sửa sai cho đúng cách, mà không bao giờ tái phạm.

Thứ hai: Chúng ta sẽ không phải chịu sự khổ đau lâu dài, vì chờ đợi người kia nhận lỗi, hay tha thứ cho chúng ta.

Khổ đau trong cuộc sống của con người thì vô vàn không sao kể xiết, nếu chúng ta không nhận lỗi, và cứ lại chất chứa thêm những khổ đau từng ngày, thì cuộc sống của chúng ta rơi vào khổ đau triền mien, cũng đâu có gì là lạ.

Rõ ràng, chẳng phải từ kiếp trước hay nghiệp lực nào, đem đến cho chúng ta khổ đau, mà nếu chúng ta chịu khó quan sát và nhìn sâu, chúng ta thấy, chính vì chúng ta không học cách nhận lỗi về chúng ta, đã chiếm hơn 80% những khổ đau trong cuộc sống của chúng ta rồi.

Trong sự khổ đau này, cái đau nhất, chính là thời gian chờ đợi. Thời gian chờ đợi càng dài bao nhiêu thì chúng ta càng đau khổ nhiều bấy nhiêu.

Có nhiều khi, chúng ta chờ đợi đến ngày chúng ta chết đi, mà người kia cũng không chịu nhận lỗi về phần họ, hay họ sẽ không tha thứ cho chúng ta, khi họ đã “quyết định” đó là lỗi của chúng ta.

Chính vì vậy, thay vì chúng ta hoàn toàn bị lệ thuộc, bị bị động, rơi vào thế đợi chờ, thì chúng ta có thể biến thế bị động đợi chờ người kia tha thứ cho chúng ta, thành thế chủ động: chúng ta tự nhận lỗi về mình.

Với thế chủ động này, chúng ta bắt đầu áp dụng phương pháp bốn bước để đi giải quyết tận gốc rễ. Khi chúng ta đã giải quyết xong thì sự khổ đau của chúng ta chấm dứt, mà không cần phải chờ đến chết mới được người khác thứ tha hay nhận lỗi.

Thứ ba: Chúng ta có nhiều cơ hội hơn để hiểu về chính chúng ta.

Khi nhận lỗi về phần chúng ta, và chúng ta đi tìm phương pháp để giải quyết cái lỗi đó, nếu chúng ta dùng đúng cách, thì chắc chắn chúng ta sẽ có cơ hội hiểu sâu hơn về chúng ta.

Chúng ta có thể hiểu được sự vận hành của Ngã Thức. Chúng ta có thể hiểu được tại sao cảm xúc/giác lại có mặt trên Ngã Thức, và cảm xúc/giác khích hoạt hay sử dụng Ý Thức như thế nào.

Chúng ta cũng có thể suy xét những niềm tin mà chúng ta đã thâu thập và tích lũy trong qúa khứ, nhưng chưa từng qua kiểm chứng, và thực chứng.

Chúng ta cũng có thể quan sát và nhìn sâu vào những niềm tin đó, đã ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta như thế nào, khi chúng ta sử dụng trong cách ứng xử với người, và với chính mình.

Như vậy, qua việc chúng ta nhận lỗi về chúng ta thì chúng ta đang cho chính chúng ta những cơ hội để hoàn thiện, chỉnh sửa lại chính mình.

Thứ tư: Chúng ta dễ dàng tha thứ cho chính chúng ta.

Tha thứ là hai chữ mà chúng ta đã nghe, thấy, và cũng đã sử dụng rất nhiều lần trong cuộc sống. Thông thường, khi chúng ta nghe, thấy, hai chữ tha thứ, thì chúng ta liên tưởng ngay đến việc, đối tượng nào đó đang bỏ qua một điều gì đó, mà chúng ta đã làm sai với đối tượng, và đối tượng đã không còn chấp nhất, hay bắt lỗi về việc làm sai của chúng ta nữa.

Như vậy, định nghĩa của hai chữ tha thứ là: bỏ qua, không bắt lỗi. Nhưng trên thực tế, thì có sự tha thứ của người nào đó cho chúng ta, mà sự tha thứ đó, có thật sự là tha thứ không?

Hay đó, chỉ là “tạm tha” trong giai đoạn, và khi chúng ta có một lỗi nào khác nữa, thì cái lỗi mà đã được gọi là tha thứ đó, lại quay về cộng chung vào cái lỗi mới.

Người vợ đang nấu phở, nhưng thiếu củ hành tây bỏ vào cho ngọt nước, nên sai người chồng, đi chợ mua một củ hành tây.

Người chồng lái xe ra chợ, thấy hành tây đang giảm giá bán $1/cho ba củ hành, trong khi, một củ bán lẻ giá 50 xu. Người chồng, thay vì, mua một củ hành như người vợ dặn, thì anh lại bị hấp dẫn bởi quảng cáo hạ giá, cho nên, anh đã mua ba củ hành.

Người chồng, sau khi trả tiền và lái xe về nhà, hí hửng vào khoe với vợ, về sự “khéo tính” của mình. Người vợ, không những không khen người chồng, mà còn quay sang quạt cho anh một trận, vì tội không biết tiết kiệm và hoang phí, trong khi, vợ chồng lại ít ăn hành tây, và chỉ dùng hành tây cho nấu phở.

Người chồng khi bị vợ mắng thì tiu nghỉu đi ra phòng khách, ngồi mặt bí xị. Khi người chồng bước đi thì người vợ nói với theo sau:

-Lần này tôi “tha” cho ông, lần sau, ông không được xài hoang phí như thế nữa.

Nửa tháng sau, người vợ nấu bún riêu, nhưng lại thiếu cà chua, nên sai người chồng, đi chợ mua thêm 5 trái cà chua. Người chồng lần này ra chợ, lại bị bảng hạ giá $1/ 10 trái hấp dẫn, nên anh lại mua một đồng cà chua đem về cho vợ.

Nhìn thấy gói cà chua có hơn năm quả, người vợ quát thật to:

“Tôi đã dặn ông, đi mua 5 trái, sao ông lại mua 10 trái, tôi càng tiết kiệm bao nhiêu, thì ông càng phá của bấy nhiêu. Lần trước, tôi nói ông đi mua một củ hành, thì ông lại vác về 3 củ hành; lần này, tôi kêu ông đi mua 5 trái cà chua thì ông đi vác về 10 trái, bộ ông tính chọc cho tôi tức chết ông mới vừa lòng sao.”

Nửa tháng trước, người vợ đã dõng dạc tuyên bố “tha cho ông”, nhưng hai tuần sau, thì cái lỗi của ông không những không được tha, mà còn được cộng thêm với cái lỗi mới.

Cho nên, khi mà chúng ta đã bị ghi vào sổ “bìa đen” là có lỗi, tuy người kia đã nói tha lỗi cho chúng ta, cái tha đó không phải là “tha thứ”, không còn nghĩ đến nữa, hay bỏ qua, mà chỉ là “tạm tha” trong giai đoạn mà thôi. Hiếm khi nào có sự tha thứ, đúng như định nghĩa.

Ngược lại, khi chúng ta nhận lỗi về chúng ta, thông thường, chúng ta hay sử dụng sự tha thứ cho chúng ta rất đúng với định nghĩa của tha thứ, đôi khi còn “qúa lố” nữa là khác.

Nửa tháng trước, khi đi khám bác sĩ về gan, bác sĩ cho anh biết, anh đã sử dụng rượu qúa nhiều, cho nên, gan của anh bắt đầu có triệu chứng bị sơ.

Nghe bị sơ gan, anh rất sợ, và thấy đó là lỗi của anh, khi đã uống rượu khá nhiều. Anh quyết định cai rượu để chuộc lại lỗi lầm của mình.

Gìn giữ được mươi ngày, thì người bạn thân, lại rủ anh đến ăn tiệc thôi nôi con của người bạn. Lúc đầu, anh còn giữ được kỷ luật, nên không uống, nhưng qua vài tua khích bác, thì anh đã say bí tỉ đêm hôm đó.

Anh không những, không giữ được kỷ luật do anh đặt ra, mà anh còn tha thứ “trọn vẹn” cho cái lỗi ham uống rượu, mà bác sĩ đã cảnh cáo anh, nếu anh không bỏ uống rượu, thì cơ hội gan của anh bị sơ là rất lớn.

Qua hai câu chuyện trên, chúng ta thấy, ít ai trong chúng ta có thể tha thứ cho người khác một cách trọn vẹn, nếu có chăng, thì đó chỉ là “tam tha” để mai kia tính lại, chứ không phải bỏ qua, không bao giờ nghĩ đến lỗi đó nữa.

Ngược lại tha thứ khi dùng cho chúng ta, thì mới có tha thứ một cách trọn vẹn và đúng nghĩa nhất.

Thứ năm: Chúng ta luôn được người khác quý mến hơn, vì chúng ta luôn là người chấp nhận lỗi về chúng ta.

Không cần nói, thì ai trong chúng ta, cũng nhận thấy được lợi ích này, bởi vì, khi chơi với ai, mà người đó luôn chịu gánh lỗi, và chúng ta là người vô tội, thì ai mà chẳng muốn chơi với người đó, và ai mà chẳng yêu mến người đó chứ.

Dĩ nhiên, chúng ta yêu mến người đó vì lợi ích của chúng ta đã có người sẵn sàng chịu lỗi cho chúng ta. Nhưng chắc chắn người biết nhận lỗi kia, cũng có những lợi ích như: vừa học hoàn chỉnh họ, vừa tạo được môi trường sống không có thù hận, khổ đau. Không cần phải sống giả dối, lừa gạt nhau.

Thứ sáu: Chúng ta sống có tự chủ hơn, có thể tự giải quyết vấn đề hay khổ đau của chúng ta mà không lệ thuộc vào ai.

Đây có thể nói là lợi ích vô cùng quan trọng với chúng ta vì chính nhờ lợi ích này, mà chúng ta có thể quyết định cuộc đời của chúng ta như thế nào?

Cho dù, chúng ta có vấn đề từ nội tâm hay do ngoại cảnh, khi chúng ta có sự tự chủ, thì chúng ta có thể thay đổi hậu quả thành kết quả. Chúng ta có thể sống ít lầm lỗi và nhiều hạnh phúc an lạc hơn.

Thứ bẩy: Chúng ta là người có dũng khí và đảm lược nên chúng ta sẽ dễ thành công hơn.

Biết nhận lỗi với người, và dám gánh những hậu quả do mình gây ra, đó không phải là việc bình thường, ai cũng có thể làm được.

Muốn làm được điều đó, đòi hỏi chúng ta phải có sự quan sát và nhìn sâu rất vững chãi, mới có thể làm được. Khi đã có sự nhìn sâu vững chãi, và tiếp xúc được với sự thật, thì đạo giáo gọi đó là người có dũng khí và đảm lược.

Định nghĩa của hai chữ dũng khí là: nguồn năng lực (khí) mạnh mẽ (dũng), hay lòng can đảm. Hai chữ: can là gan, và đảm hay đởm là mật, là hai cơ quan, gánh những nhiệm vụ nặng nề trong việc bài tiết cholesterol và các chất độc thải ra ngoài cơ thể. Còn hai chữ: đảm lược, có nghĩa là, không biết sợ hãi, giỏi tính toán sắp đặt.

Như vậy, khi chúng ta nhận lỗi về chúng ta, và chúng ta biến đó thành thói quen, thì bất cứ làm việc gì, chúng ta cũng dùng sự quan sát và nhìn sâu, để tìm ra gốc rễ của vấn đề, và đi giải quyết nó, thì không những, chúng ta có thể đem an lạc và hạnh phúc cho chúng ta, mà yếu tố quan sát và nhìn sâu khi ứng dụng trong tất cả mọi nghành nghề, vẫn luôn là hai chất liệu quan trọng nhất để đưa đến thành công.

Vấn đề là, chúng ta phải tập thành thói quen sử dụng quan sát và nhìn sâu liên tục, nếu không, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng lúc nhớ lúc quên, và hiển nhiên, quên nhiều hơn nhớ, khi va chạm với vấn đề.

Thứ tám: Nơi nào có mặt của chúng ta là nơi đó có hạnh phúc, bình an.

Lợi ích này thì không cần phải bàn rộng ra, vì ai trong chúng ta cũng hiểu, khi chúng ta đã nhận lỗi, tìm ra nguyên nhân lỗi, và đi giải quyết cái lỗi, thì chúng ta sẽ không còn khổ đau do những lỗi mà chúng ta gây ra. Cho nên, chúng ta có bình an và hạnh phúc là chuyện tất nhiên.

Là con người, nếu chúng ta sống hướng ngoại, và đi tìm bình an và hạnh phúc từ bên ngoài, thì chúng ta thường thiếu bình an và hạnh phúc. Cho nên, nếu chúng ta là người có bình an và hạnh phúc kéo dài, thì chúng ta có thể đem những bình an và hạnh phúc mà chúng ta có, để chia xẻ với những người đang thiếu.

Như vậy, chúng ta đang tạo ra một môi trường sống lành mạnh, môi trường mà, con người có thể sống với nhau có bình an và hạnh phúc, hiến tặng cho nhau.

Như vậy, qua tám lợi ích kể trên, chúng ta không những làm lợi cho người, mà chúng ta cũng đang làm lợi cho mình. Lợi cho người thì không biết là bao nhiêu, nhưng khẳng định, ít nhất chúng ta cũng đã có 8 điều lợi.

Chúng tôi thì vẫn đang học và hành nhận lỗi mỗi ngày, còn bạn, bạn có “dám” nhận lỗi về phần mình hay không?

We use cookies in order to give you the best possible experience on our website. By continuing to use this site, you agree to our use of cookies.
Accept