TỰ TIN (NIỀM TIN)

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN

Chiều nay, Nhật Minh bận đi họp, nên chỉ có Diệu Hiền và Hoàng Trang đến thăm ông chú. Vừa đến chỗ ông chú ngồi, cả hai, Diệu Hiền và Hoàng Trang đã tự động phân ra ngồi hai bên cạnh ông chú. Hoàng Trang lên tiếng:

Chú ơi, ai trong chúng ta cũng cần có tự tin, vì khi có tự tin, chúng ta mới có thể làm được những điều chúng ta mong muốn.

Nhà Tâm Lý học, Albert Bandura, đã xác định tính tự tin vào năng lực bản thân là niềm tin của một người trong khả năng thành công trong những tình huống cụ thể hoặc hoàn thành một nhiệm vụ. Cảm giác tự tin vào năng lực bản thân của một người đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận các mục tiêu, nhiệm vụ hay thách thức.

Vậy theo như sự quan sát và nhìn sâu của chú thì có phương pháp nào giúp cho chúng ta có thể đạt được tự tin không chú?

Trước khi chúng ta nói đến những phương pháp về Tự Tin thì chúng ta cũng nên tìm hiểu về định nghĩa hai chữ Tự Tin là gì?

Tự là chính mình, Tin là nguồn năng lượng có trong Ngã Thức, diễn tả một trạng thái chấp nhận một điều gì, hay vật gì, hay người nào đó. Như vậy, Tự Tin có nghĩa là chính mình chấp nhận một điều gì, vật gì, hay người nào đó qua sự quan sát, phân tích, so sánh, v.v. từ Ý Thức.

Phần đông chúng ta hay “đánh đồng” hai chữ “tự tin” là để đánh giá về khả năng của chúng ta, hơn là hiểu đúng với định nghĩa.

Nếu cần phải đặt lại danh từ cho hai chữ “tự tin” mà chúng ta “đánh đồng”, thì chúng ta nên gọi là Khả Tin, nghĩa là lòng tin vào khả năng của mình; và trả lại định nghĩa cho hai chữ Tự Tin, khi chúng ta lại “đánh đồng” bằng hai chữ niềm tin. Như vậy mới đúng nghĩa.

Nhưng vì tôn trọng quyền diễn dịch của mọi người, chúng ta vẫn sử dụng hai chữ tự tin tức là khả năng, và niềm tin thay cho định nghĩa của tự tin.

Theo định nghĩa phổ thông, thì tự tin là khả năng của một cá thể, và niềm tin, có nghĩa là, sự chấp nhận một điều gì hay vật, người nào, theo ý chúng ta muốn. Hay ngắn gọn thì tự tin là ngọn, và niềm tin là gốc.

Nếu chúng ta là người có kinh nghiệm, chúng ta biết, muốn phát triển ngọn thì chúng ta nên bắt đầu từ gốc. Bởi vì, nếu gốc mà tróc rễ thì ngọn cũng không còn.

Vậy làm sao chúng ta có thể phát triển được niềm tin? Nếu muốn phát triển được niềm tin, chúng ta phải sử dụng đến sự vận hành của các thức để hiểu được niềm tin được tạo ra như thế nào, và tại sao Ngã Thức của chúng ta lại hay sử dụng niềm tin.

Trong chín thức, chúng ta đã phân chia rạch ròi những chức năng khác nhau của các thức. Trong đó, Ngã Thức làm chủ Ý Thức, và sử dụng Ý Thức để quan sát, phân tích, tổng hợp, nhìn nông hay sâu. Trong Ý Thức, vì có qúa trình quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, nên chúng ta có sự chọn lọc.

Nhưng trong Ngã Thức, chúng ta chỉ có sự Lựa Chọn. Có nghĩa là, Ngã Thức của chúng ta chỉ có thể lựa những kết quả do Ý Thức phân tích, rồi chọn trong những kết quả đó cái nào tốt nhất, có lợi nhất cho Ngã Thức của chúng ta, và tin vào điều đó để ứng xử trong cuộc đời.

Chính vì vậy, niềm tin mà chúng ta có được bắt đầu từ Ý Thức, là nguồn cung cấp những dữ liệu cho Ngã Thức lựa chọn. Như vậy, nếu muốn chỉnh lại niềm tin có đúng với sự thật hay không thì chúng ta phải quan sát về Ý Thức.

Trong chín thức, chúng ta biết, chức năng của Ý Thức có phần nhìn nông và nhìn sâu. Khi nhìn nông thì chúng ta không biết được kết quả, nên phải dùng sự phỏng đoán hay tưởng tượng, và khi nhìn sâu, chúng ta cần sự kiểm chứng và thực chứng.

Thí dụ, nếu tôi hỏi bạn có biết ăn Igwava không? Nếu bạn không biết tiếng Xhosa thì có ba trường hợp sẽ xẩy ra.

Trường hợp một: bạn không biết định nghĩa chữ Igwava là gì, nên bạn không thể khởi được ý niệm về trái đó là gì, nên bạn sẽ không có hành động, ăn ra làm sao?

Trường hợp hai: tuy bạn không biết định nghĩa của Igwava là gì, nhưng bạn lại sử dụng sự phỏng đoán và tưởng tượng ra Igwava là trái vả hay trái vải (vì có âm cuối là wava).

Nếu như qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của Ý Thức đưa ra kết quả, rồi đưa về kho của Ngã Thức, và Ngã Thức sau khi lựa chọn và tin vào điều đó. Đến sau này, có người nói với bạn, định nghĩa của Igwava là trái ổi thì bạn có thể vì tự ái, hay vì sự tự tôn, mà quyết định cãi đến cùng, vì đó là niềm tin của bạn, và bạn tin là bạn đã tin đúng.

Trường hợp ba: với một người có sự quan sát và nhìn sâu, họ không làm như trường hợp hai, mà họ sẽ đi tra cứu, tìm tòi, cho đến khi, họ biết đúng được định nghĩa Igwava là gì thì họ mới tin.

Với họ, tất cả cái gì khi qua sự quan sát, phân tích, so sánh, v.v của Ý Thức, đó chỉ là những thông tin và dữ liệu cần phải kiểm chứng và thực nghiệm, cho tới khi có kết quả rõ ràng. Họ chỉ tin vào kết quả qua sự kiểm nghiệm, chứ họ không tin vào thông tin và dữ liệu hay sự phỏng đoán hay tưởng tượng.

Sự khác biệt giữa trường hợp thứ hai và thứ ba, trong phần chín thức, chúng ta đã phân trường hợp thứ hai là Trí, và trường hợp thứ ba là Tuệ.

Như vậy, trong Ý Thức có hai phần cho Ngã Thức của chúng ta lựa chọn. Chúng ta có thể sử dụng Trí hay sử dụng Tuệ tùy theo Ý muốn của Ngã Thức của mỗi cá thể.

Tiếc thay, đa số chúng ta lại thích sử dụng Trí hơn Tuệ; cho nên, Ngã Thức của chúng ta thường rơi vào những niềm tin trên sự phỏng đoán hay tưởng tượng, mà không đúng sự thật.

Sự khổ đau hay những hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu là chuyện tất nhiên. Vì khi tiếp xúc với sự thật, chúng ta không thể dùng được niềm tin của chúng ta nữa, hay cái gốc của chúng ta đã tróc gốc thì sự thiếu tự tin nơi bản thân cũng là chuyện không cần nghĩ bàn.

Như vậy, muốn đạt được sự tự tin (khả năng) ở phần ngọn thì chúng ta phải đi xuống gốc là niềm tin (tự tin). Xuống đến gốc của niềm tin, thì chúng ta lại phải tìm nơi Ý Thức. Khi nhìn sâu vào Ý Thức, chúng ta mới phát hiện ra nguyên nhân chính, đó chính là định nghĩa.

Hãy lấy thí dụ về hai chữ Tự Do khi chúng ta nhìn dưới dạng nông về định nghĩa như thế nào?

Tự Do theo định nghĩa có nghĩa là mình (tự) có thể nghĩ theo ý mình (do).

Phần lớn chúng ta đều hiểu gần đúng hai chữ Tự Do như định nghĩa trên, nhưng lại thay chữ “nghĩ” bằng chữ “làm”. Cho nên, đã gây ra sự hiểu lầm trong sự phân tích và cách ứng dụng. Từ đó, mới gây ra rất nhiều tranh cãi và không ai chịu chấp nhận ai.

Nếu chúng ta chịu khó quan sát kỹ và nhìn sâu, chúng ta thấy, trong định nghĩa của Tự Do nhấn mạnh đến chữ Ý. Chữ Ý ở đây phải hiểu là chỉ liên quan đến tư tưởng mà không hề nói đến hành động.

Nếu đứng trên góc độ ứng dụng về Tự Do, theo định nghĩa diễn dịch chung của chúng ta là: “mình muốn làm gì thì làm”, và nếu không muốn gây ra sự hiểu lầm, chúng ta phải thêm vào bốn chữ sau Tự Do, đó là: Tư Tưởng và Hành Động.

Tự Do Tư Tưởng là mình có quyền nghĩ theo ý mình, có quyền phỏng đoán, tưởng tượng theo ý mình, mà không ai có quyền can thiệp hay bắt buộc chúng ta phải thay đổi.

Đừng nói là người nào đó có đủ uy quyền như: người đang ở cõi trời hay cõi người, có thể khống chế, hay đưa ra quy định nào để áp đặt Tự Do trong tư tưởng của chúng ta, mà ngay cả Ngã Thức của chúng ta, nơi trực tiếp xẩy ra các hoạt động của khởi niệm, cảm xúc/giác, cũng không đủ khả năng để khống chế được sự hoạt động tự do tư tưởng của chúng ta (thuộc về Ý Thức qua tác động của nguồn năng lượng).

Thí dụ, chúng ta có một tư tưởng tiêu cực về một vấn đề nào đó, nếu chúng ta quan sát kỹ, chúng ta thấy, tư tưởng tiêu cực đó luôn sử dụng quyền tự do để diễn dịch những hiện tượng, tình trạng, hay định nghĩa theo cách tiêu cực mà tư tưởng đó chọn lựa.

Cho dù, Ngã Thức là chủ nhân của Ý Thức, nhưng Ngã Thức của chúng ta cũng khó có thể làm được gì với những tư tưởng tiêu cực đang sử dụng quyền tự do suy diễn này.

Cho nên, ngoài sự chịu đựng, chờ đợi cho những tư tưởng tiêu cực không còn sử dụng đến quyền tư do ra (do nguồn năng lượng tiêu cực khống chế Ngã Thức và sử dụng Ý Thức để phân tích, so sánh,v.v.), thì Ngã Thức cũng đành bó tay, chịu trận.

Phần đông, qua lâm sàng, các nhà tâm lý khi gặp những bịnh nhân có tư tưởng tiêu cực thì các nhà tâm lý trị liệu thường hay tìm mọi cách để thay đổi trạng thái hay góc độ nhìn của bịnh nhân, từ những tư tưởng tiêu cực sang tích cực.

Đứng trên góc độ về phương pháp thì đây là cách thức chuẩn không cần chỉnh. Vì sao? Vì muốn chữa tiêu cực thì dùng sự đối lập của tiêu cực là tích cực, là đúng cách.

Nhưng vấn đề ở đây là, các nhà tâm lý đã không để ý đến Tự Do và Quyền Tự Do (Ý Thức không bị giới hạn, trong quan sát, phân tích, v.v.) mà tư tưởng tiêu cực đang sử dụng.

Cho nên, tuy phương pháp là chuẩn nhưng đứng trên góc độ của kết quả thì cần chỉnh. Vì các nhà tâm lý đã không biết ứng dụng làm sao để chấm dứt quyền tự do mà tư tưởng tiêu cực đang sử dụng, nên kết quả thường không mấy khả quan.

Ở đây, chúng ta sẽ không đào sâu vào phương pháp làm sao chấm dứt quyền tự do tiêu cực của các nhà tâm lý, mà chúng ta chỉ quan sát và nhìn sâu để nhận dạng được Tự Do Tư Tưởng hoạt động như thế nào, và qua sự quan sát đó, chúng ta có thể hiểu được đúng sự thật về Tự Do Tư Tưởng.

Có nghĩa là, đứng trên góc độ của Tư Tưởng thì chúng ta có quyền tự do tuyệt đối. Không ai có thể ngăn cấm hay bắt buộc, áp chế chúng ta được.

Thí dụ, trong Tự Do Tư Tưởng, chúng ta có toàn quyền muốn hại ai thì hại, muốn tiêu diệt ai thì tiêu diệt, mà không có thần thánh, chính quyền, hay luật pháp nào dù thuộc về Tư Bản chủ nghĩa,  hay Xã Hội chủ nghĩa, có thể trừng phạt, bắt bớ, hay giam cầm chúng ta.

Chúng ta có toàn quyền tự do làm nổ tung trái đất, vỡ toang vũ trụ, tiêu diệt thần thánh, cũng không có ai có thể ngăn cấm hay tước đoạt đi Quyền Tự Do Tư Tưởng Tuyệt Đối này của chúng ta. Đó chính là sự thật.

Cho nên, trong định nghĩa Tự Do là mình muốn nghĩ gì theo Ý mình là hoàn toàn chính xác, khi chúng ta thêm vào hai chữ Tư Tưởng theo sau. Hay nói đúng hơn phải là Tự Do trong Tư Tưởng mới rõ nghĩa.

Nhưng khi ứng dụng Tự Do và Quyền Tự Do trong Hành Động thì lại hoàn toàn khác.

Khác ở chỗ nào vậy chú? Diệu Hiền hỏi.

Này bạn trẻ, ai trong chúng ta cũng biết, hành động bao giờ cũng phải đến sau sự tư duy, hay cảm xúc/giác. Nếu không có sự tư duy hay cảm xúc/giác khởi đầu thì chúng ta không thể hành động.

Trong hành động, luôn bao gồm hai trường hợp: một là trực tiếp, và hai là gián tiếp. Hành động trực tiếp là hành động có sự tham gia của sự tư duy và cảm giác.

Còn hành động gián tiếp thì có sự tham gia của cảm xúc với những nguồn năng lượng “không tên”. Cho nên, có những khi, chúng ta cứ hành động một cách “tự nhiên” theo thói quen của Tiềm Thức mà không hề có sự tham gia của cảm giác hay suy nghĩ.

Qua quan sát, chúng ta thấy, Tự Do Hành Động có thể bắt đầu từ Tự Do Tư Tưởng trực tiếp, hay Tự Do Tư Tưởng gián tiếp, tùy theo môi trường, hoàn cảnh, tình trạng v.v.

Nếu như Ngã Thức của chúng ta có sự tư duy hay cảm giác tích cực thì chúng ta sẽ có những hành động tích cực. Nếu như chúng ta có những tư duy, hay cảm xúc tiêu cực thì chúng ta có những hành động tiêu cực.

Đó là đứng trên góc độ về nhân quả, khi tư tưởng hay cảm xúc/giác là Nhân và hành động là Quả.

Nhưng nếu đứng trên góc độ về: kinh tế, xã hội, chính trị, thì Tư Tưởng Hành Động, tuy được bắt đầu bằng quyền tự do trong tư tưởng, nhưng Tự Do trong Hành Động lại phải phụ thuộc vào môi trường, và hoàn cảnh chung quanh và có hai trường hợp sẽ xẩy ra.

Trường hợp một: Nếu Tự Do Hành Động của một cá thể nào đó, mà hành động đó chỉ ảnh hưởng đến cá thể đó, hay riêng cho cá thể đó thì Tự Do Hành Động của cá thể đó là tuyệt đối.

Trường hợp hai: Nhưng nếu như, Tự Do Hành Động của cá thể đó lại liên quan đến tập thể thì Tự Do Hành Động của cá thể đó sẽ bị giới hạn, từ tuyệt đối biến thành tương đối, và cá thể đó phải tuân theo quyền tự do chung của tập thể đã quy định.

Quyền tự do chung của tập thể là quyền tự do mà những cá thể, khi đã chịu chấp nhận sống chung, hay sinh hoạt chung, đòi hỏi mỗi cá nhân phải hy sinh một số quyền tự do tư tưởng (tuyệt đối) của cá nhân, và phải chấp nhận hành động theo quy định về tự do chung (tương đối) để tạo ra an ninh, hay an toàn chung cho tập thể.

Nếu cá nhân đó không tuân theo những quy định do tập thể quy định thì cá nhân đó có thể bị tập thể khống chế hay bắt buộc.

Thí dụ, nếu đứng trên góc độ Tự Do về Tư Tưởng thì cá nhân nào đó, có thể coi hại người là niềm vui, và có thể hại bất cứ một ai mà người đó không thích trong tư tưởng, mà không hề bị sự trừng phạt, bắt bớ, hay giam cầm từ bất cứ ai.

Nhưng nếu cá nhân đó đem tự do trong tư tưởng của mình,  và áp dụng Tự Do trong Hành Động liên quan đến tập thể, và gây thiệt hại cho tập thể thì cá nhân đó sẽ bị tập thể khống chế, trừng phạt, bắt bớ, giam cầm, hay tiêu diệt.

Vì sao? Vì Quyền Tự Do Hành Động của cá nhân đó đã vi phạm vào quyền tự do chung, vi phạm vào an ninh, hay an toàn chung của tập thể.

Đây chính là vấn đề mà chúng ta gây ra tranh cãi nhiều nhất. Bởi vì, chúng ta đã có sự hiểu lầm giữa Tự Do trong Tư Tưởng và Tự Do trong Hành Động.

Ở các nước có nền Dân Chủ cao, luật pháp được đặt ra để bảo vệ sự an ninh, an toàn, và quyền lợi của mỗi cá thể theo đa số. Luật pháp sẽ dựa trên đa số để quy định ra những quyền tự do hành động cho tập thể và bắt buộc mỗi cá thể trong tập thể đó phải tuân theo.

Vì chỉ dựa trên đa số, cho nên, tự do trong hành động của mỗi cá thể trong tập thể sẽ luôn có sự chống đối hay không hài lòng của thiểu số về những quy định do luật pháp của đa số đặt ra.

Với những người thuộc phe thiểu số, họ hay lý luận rằng, họ có quyền tự do hành động theo những gì họ muốn để biện minh cho những việc họ làm trái, hay sai, với những quy định về quyền tự do hành động chung của tập thể đã quy định.

Họ cho rằng, những quy định đó vi phạm vào quyền tự do hành động của họ và họ cảm thấy bất công, cho nên, họ phải tranh đấu để được quyền tự do hành động.

Nhưng thật ra, họ đã lầm lẫn giữa Tự Do và Quyền Tự Do giữa Tư Tưởng và Hành Động.

Nếu họ thêm vào bốn chữ sau Tự Do là, Tư Tưởng hay Hành Động, thì họ sẽ không rơi vào sự mơ hồ hay biện minh cho cái quyền tự do mà họ có thể sử dụng.

Thí dụ, họ có thể đạt được quyền tự do trong hành động một cách tuyệt đối khi họ chọn lựa sống một mình, không sinh hoạt hay va chạm gì đến tập thể. Lúc đó, họ có toàn quyền tự do hành động theo đúng ý họ muốn mà tập thể không thể áp đặt hay trừng phạt họ.

Vấn đề rắc rối ở đây là, họ lại không muốn sống một mình, họ muốn sống chung với mọi người nhưng họ lại muốn có cái quyền tự do hành động tuyệt đối theo ý họ. Và họ bắt mọi người phải chiều theo ý muốn của họ. Nếu không, họ coi như quyền tự do hành động của họ bị xâm phạm, bị cấm đoán.

Trong khi, họ không bao giờ nghĩ, nếu như, người ta thuộc đa số lại phải chiều họ, thì họ thuộc về thiểu số, họ có chịu chiều người ta không? Nếu họ đòi có quyền tự do hành động tuyệt đối, thì những người khác, cũng có quyền tự do hành động tuyệt đối, tại sao người khác lại phải nhường quyền đó cho họ?

Rõ ràng, chúng ta đang sống trong thế giới của nhị nguyên, thế giới của đúng sai, thế giới của tương đối, thế giới của đa số và thiểu số, chứ không phải chúng ta đang sống trong thế giới của nhất nguyên, của tuyệt đối. Cho nên, nếu chúng ta cứ đòi hỏi tất cả các sự việc phải xẩy ra theo tuyệt đối thì đó chỉ là ảo tưởng, không thật, và mãi mãi không bao giờ xẩy ra.

Hãy lấy thí dụ về quyền Tự Do Ngôn Luận, đứng trên góc độ về chính trị, phần lớn chúng ta vẫn hay có sự hiểu lầm và gây ra biết bao tranh cãi.

Theo định nghĩa, quyền tự do ngôn luận là quyền của mỗi một công dân, có quyền nói nên những ý kiến đóng góp cho chính quyền, khi chính quyền đó có những luật lệ gây ra ảnh hưởng đến quyền lợi, an ninh, hay an toàn của tập thể chung; và quyền tự do ngôn luận là quyền tự do thuộc về hành động chứ không phải là quyền tự do thuộc về tư tưởng.

Khi đã nói đến chính quyền, đến tập thể chung, có nghĩa là, quyền tự do đó sẽ chỉ là tương đối chứ không phải tuyệt đối (muốn nói, hay muốn làm gì thì làm), và phải theo sự lựa chọn của đa số chứ không phải là thiểu số.

Thế nên, khi những phản đối hay ý kiến đòi hỏi của nhóm thiểu số đưa ra mà không được chính quyền thay đổi, hay thi hành, thì những người thuộc về thiểu số sinh ra bất mãn và cảm thấy quyền tự do ngôn luận bị vi phạm, khống chế, hay bị kiềm kẹp. Thế là, họ đứng lên kêu gọi biểu tình, gây loạn lạc, chiến tranh, gây ra tang thương, đau khổ cho những người khác.

Để tránh những tình trạng bất ổn, và bảo đảm an ninh, an toàn cho đa số, chính quyền phải bắt giam hay trừng phạt những người thiểu số này. Khi bị bắt giam, những người thiểu số này lại cho rằng, chính quyền đó đã vi phạm vào quyền tự do ngôn luận hay tự do hành động của họ. Đây chính là chuẩn nhưng cần chỉnh. Vì sao?

Vì Quyền Tự Do Ngôn Luận, không phải là quyền tự do tuyệt đối theo tư tưởng của cá nhân, mà là quyền tự do hành động tương đối theo tập thể.

Nếu tập thể muốn thay đổi thì đa số trong tập thể phải lên tiếng. Và chỉ khi đa số trong tập thể muốn thay đổi thì chính quyền mới thay đổi. Còn nếu như đa số vẫn chấp nhận và chỉ có thiểu số muốn thay đổi thì chính quyền sẽ không vì quyền tự do ngôn luận của thiểu số mà thay đổi, rồi sau đó, bắt đa số phải chấp nhận. Đây chính là cách sinh hoạt của thế giới tương đối, hay thể chế dân chủ.

Chúng ta, ai cũng có quyền lựa chọn. Chúng ta có thể lựa chọn sống trong thế giới tương đối hay tuyệt đối. Nhưng chúng ta chỉ có quyền, chọn một trong hai, chứ không thể nào chọn cả hai cùng một lúc được.

Tệ hại hơn, không ít người trong chúng ta lại diễn dịch quyền tự do ngôn luận, vốn chỉ dành trong lĩnh vực chính trị, lấn qua xã hội và kinh tế v.v. 

Chúng ta cho rằng, chúng ta có quyền tự do tuyệt đối, muốn nói gì thì nói, chúng ta có thể nói về bất cứ ai, và nói bất cứ đề tài nào, về người nào đó, ngay cả đặt điều, hay nói không đúng sự thật, mà không cần phải chịu trách nhiệm là chúng ta có gây ra tổn thương cho người khác hay không, hay có làm tổn hại đến công ty của người khác hay không? Bởi vì, theo lý luận và diễn dịch của chúng ta, chúng ta có quyền tự do ngôn luận.

Nếu như chính quyền hay luật pháp vì bảo vệ quyền tự do chung của mọi cá nhân trong tập thể, và trừng phạt cái quyền tự do hành động hay ngôn ngữ gây ra tổn thương và tổn hại cho người khác của chúng ta, thì chúng ta cho rằng, chính quyền hay luật pháp đó bất công đã vi phạm vào quyền tự do hành động hay tự do ngôn luận tuyệt đối của chúng ta. Và chúng ta nổi loạn, chống đối lại chính quyền hay đa số.

Rõ ràng, quyền tự do ngôn luận chỉ được áp dụng cho chính trị, chứ không hề áp dụng cho xã hội hay kinh tế. Nhưng chúng ta lại thích diễn dịch theo ý mình, nên đã gây ra những nhận thức sai lầm, những tư tưởng lệch lạc, những phỏng đoán thiếu chính xác.

Rồi chúng ta dựa trên sự tư duy đó để hành động, và tạo ra vô vàn hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu, bao gồm: sự bạo loạn, đấu tranh, loạn lạc, chết chóc, đau thương, và khốn khổ cho tất cả mọi người.

Với những nước có nền dân chủ cao, những luật lệ được đặt ra, dựa trên quyền tự do chung, thì trong luật lệ, luôn có một phần đặt biệt dành cho những cá nhân thuộc về thiểu số.

Với những người thiểu số, họ có thể dành được quyền tự do chung của tập thể, theo ý họ, mà không cần phải gây ra bạo động, nổi loạn, gây ra chiến tranh, tàn hủy con người, đó là, luật lệ hay chính quyền luôn cho phép những người thuộc phe thiểu số có quyền kêu gọi, thỉnh cầu, thuyết phục những cá nhân khác, qua diễn thuyết, hay dự luật bầu cử, để thay đổi luật lệ, luật pháp, hay chính quyền, khi nhóm thiểu số biến thành đa số.

Tiếc rằng, phần lớn chúng ta lại thích sử dụng đến bạo động, nổi loạn, đấu tranh, lật đổ, hơn là sử dụng những quyền mà luật pháp cho phép, trong cách giải quyết ôn hòa, êm thắm.

Dĩ nhiên, trên thực tế, cái quyền tự do chung của luật pháp, cho phép những người thiểu số có thể thay đổi cái quyền tự do hành động, theo ý họ, tùy thuộc vào mỗi quốc gia, hay các thể chế. Có nơi có, nơi không.

Nhưng trên căn bản, ai trong chúng ta cũng đều có Tự Do và Quyền Tự Do. Vấn đề ở đây là, Tự Do và Quyền Tự Do đó, chúng ta sẽ sử dụng vào lĩnh vực nào. Vì mỗi lĩnh vực khác nhau thì Tự Do và Quyền Tự Do sẽ có sự ứng dụng, giới hạn, cũng như kết quả hay hậu quả sẽ khác nhau.

Cho nên, khi chúng ta nói đến tự do và quyền tự do thì chúng ta cần phải hiểu rất rõ ràng, đó là tự do và quyền tự do đang thuộc về tư tưởng hay hành động.

Tóm lại, Tự Do trong Tư Tưởng là sự tự do tuyệt đối của cá nhân. Không ai có quyền cấm, bắt, giam, hay trừng phạt cá nhân đó, nếu như cá nhân đó dùng quyền tự do tuyệt đối trong tư tưởng của cá nhân đó mà thôi.

Ngược lại, Tự Do trong Hành Động là sự tư do tương đối, khi cá nhân đã chấp nhận sống chung với tập thể, và phải chấp nhận thay đổi một số quyền tự do tuyệt đối của họ theo quyền tự do chung tương đối của tập thể đã quy định.

Cá nhân đó, có quyền sử dụng quyền tự do hành động một cách tuyệt đối theo ý mình, khi cá nhân đó chỉ sinh hoạt một mình, và không có sự liên hệ hay va chạm đến tập thể.

Nếu cá nhân đó, vì sợ sống cô đơn, hay vì lý do gì khác, muốn sống chung với tập thể, thì cá nhân đó phải chấp nhận lệ thuộc vào quyền tự do chung của tập thể, và phải tuân thủ theo đúng với những luật lệ quy định mà tập thể đó đặt ra.

Nếu cá nhân nào vi phạm vào quyền tự do chung của tập thể thì sẽ bị luật pháp hay luật lệ của tập thể đặt ra, trừng phạt, bắt ép, giam cầm v.v.

Qua thí dụ về định nghĩa hai chữ Tự Do, chúng ta thấy, chỉ cần chúng ta diễn dịch lệch lạc là chúng ta sẽ tạo ra biết bao khổ đau cho con người.

Chính vì vậy, chúng ta phải rất cẩn thận khi diễn dịch định nghĩa của chúng ta, nếu không, chính chúng ta cũng đang biến chúng ta thành nạn nhân của chính mình.

Trở lại niềm tin, nơi mà Ngã Thức của chúng ta nương tựa vào đó để xây dựng cá tính và cách ứng xử của chúng ta. Chúng ta thấy, niềm tin của chúng ta là cái quả từ cái nhân là định nghĩa. Nếu muốn thay đổi cái quả, chúng ta chỉ cần bắt đầu từ nhân.

Và đây là một số phương pháp mà chúng ta có thể ứng dụng trong đời sống hàng ngày để tạo ra một niềm tin vững chãi.

Khi bắt đầu một câu chuyện thì chúng ta nên luôn luôn xác định chúng ta đang đứng trên góc độ nào để nói. Việc xác định góc độ sẽ giúp cho chính chúng ta và người nghe có thể nhìn về cùng một hướng.

Khi chúng ta dùng những từ ngữ liên quan đến cảm xúc/giác, chúng ta cũng nên nói rõ định nghĩa của chúng ta là gì. Không có định nghĩa đúng hay sai. Chỉ là, mỗi người chúng ta đều có quyền diễn dịch theo ý của mình. Vì vậy, trong giao tiếp, chúng ta cần nên nói rõ định nghĩa của chúng ta để tránh gây ra những hiểu lầm về định nghĩa.

Khi nghe những từ ngữ liên quan đến cảm xúc/giác, chúng ta cũng nên xác định và hỏi lại đối tượng định nghĩa của họ là gì. Hỏi để chúng ta biết về định nghĩa và góc độ nhìn hay sự diễn dịch định nghĩa của họ, chứ không phải để lên án hay chỉ trích định nghĩa của đối tượng là đúng hay sai. Hay áp lực người đó phải thay đổi định nghĩa của họ theo mình.

Không nên sử dụng tiêu chuẩn kép, dù trong bất cứ trường hợp nào. Chỉ nên dùng một tiêu chuẩn: hễ đúng với mình thì đúng với người, mà sai với mình thì sai với người.

Muốn xác định được niềm tin của chúng ta như thế nào thì trước khi tin, nên hỏi những câu hỏi như sau: “có thật không”, “đã hỏi hay hiểu được định nghĩa của họ chưa?” Nếu là thông tin, thì “nguồn đó ở đâu?”, “có đáng tin cậy không?”, “Có bao nhiêu thông tin trái ngược với thông tin này?”, v.v.

Khi đã tin, và trong hành xử, thì dùng kết quả hay hậu quả để biết được niềm tin đó đúng hay sai. Nếu ra kết quả là đúng, nếu ra hậu quả là sai. Khi sai thì thay đổi lại định nghĩa, chứ không cần chèn ép hay áp bức phải thay đổi trong cách hành xử.

Đó là vài nét về cách ứng dụng để chỉnh lại niềm tin.

Khi niềm tin được kiểm chứng, có hiểu biết rõ ràng những góc độ, thì niềm tin đó sẽ đem đến cho chúng ta nhiều kết quả hay An Lạc nhiều hơn.

Khi có được sự An Lạc, và chúng ta chia xẻ trong chính những sự trải nghiệm, kiểm nghiệm của chúng ta thì khi nói hay làm việc gì, chúng ta sẽ tự tin. Vì sao? Vì chúng ta dựa vào kết quả và sự trải nghiệm của chính chúng ta.

Ngày nay, một số các diễn giả hay hướng dẫn các cách thức, hay phương pháp để gia tăng sự tự tin (tin vào khả năng của mình) của cá thể. Nhưng sự thật, sự tư tin chỉ xuất hiện khi chúng ta có niềm tin vững chãi, đúng với sự thật.

Khi niềm tin của chúng ta chỉ dựa trên sự phỏng đoán hay tưởng tượng thì khi tiếp xúc với sự thật chúng ta sẽ dễ bị “vỡ mộng”.

Chính vì vậy, không ít người trong chúng ta đã vô cùng thất vọng về những niềm tin của mình, và cuối cùng rơi vào trạng thái tự ty, tự tôn.

Tóm lại, muốn có được tự tin (tin vào khả năng của mình) thì nên phát triển từ niềm tin. Niềm tin chính là gốc rễ của tự tin. Khi gốc rễ phát triển mạnh thì tự tin sẽ có mặt, hay nở hoa trái là chuyện tất nhiên.

Thí dụ: chúng ta chỉ có thể tự tin khi chúng ta có kinh nghiệm hay trải qua những vấn đề nào đó. Nếu chúng ta không có kinh nghiệm thì chúng ta không thể tự tin được. Nếu có chăng, đó cũng là sự đánh lừa hay “tự trấn an”, chứ đó không phải là tự tin.

Chúng ta phải hiểu, khi nói tự tin là khả năng, có nghĩa là, chúng ta đã phải làm qua, trải qua, mới xác định được chúng ta có khả năng hay không. Chứ không thể nào, chưa làm qua, mà chúng ta có thể khẳng định là chúng ta có khả năng được; trừ khi, chúng ta dùng sự tượng tượng và phỏng đoán để đưa ra kết quả.

Và muốn trải qua, hay có kinh nghiệm thì chúng ta phải có niềm tin trước, rồi mới bắt đầu thực hành quá trình trải nghiệm hay tích lũy kinh nghiệm.

Nếu chúng ta không bắt đầu từ niềm tin, và cứ tìm đủ mọi phương pháp để gia tăng sự tự tin, thì cũng giống như chúng ta đang “mò trăng dưới nước” vậy.

Thay vì, tốn nhiều thời gian cho việc phát triển cái ngọn tự tin, chúng ta nên dành thời gian đó để kiểm chứng và thay đổi lại những niềm tin mà chúng ta đã tích lũy trong qúa khứ.

Nếu niềm tin nào đúng thì chúng ta giữ lại, và niềm tin nào sai thì chúng ta đi thay lại định nghĩa mới cho niềm tin đó.

Việc làm này, xem ra hợp lý, thiết thực, và hữu ích hơn. Vì sao? Vì chúng ta đang có vô vàn niềm tin vẫn chưa được kiểm chứng.

Cứ càng nghe chia xẻ của chú thì cháu càng thấy chúng ta thích dùng Trí hơn dùng Tuệ chú nhỉ.

Chẳng trách sao, cuộc đời của chúng ta cứ đau khổ, vì chúng ta cứ lo tập trung để phát triển về phần ngọn mà lại quên đi phần gốc. Thật đáng tiếc làm sao. Hoàng Trang nói.

Những đứa trẻ từ đâu kéo đến gần chỗ ba chú cháu đang ngồi, và bầy trò chơi “bịt mắt bắt dê”. Chúng vui đùa, cười nắc nẻ. Ba chú cháu cùng hướng mắt về đám trẻ và vui lây với sự hồn nhiên tươi mát của trẻ thơ.

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN – VINH ĐOÀN

TẢI NHẠC MP3 – CA SĨ VINH ĐOÀN

Chiều nay, cả ba, Diệu Hiền, Hoàng Trang và Nhật Minh cùng đến thăm ông chú.

Diệu Hiền vừa gặp ông chú đã tíu tít cười nói:

Chú ơi, chúng ta đã chia xẻ rất nhiều về tôn giáo và tâm lý, chiều nay, chúng cháu muốn nghe chú chia xẻ về âm nhạc được không chú.

Xin chiều lòng các bạn, vậy bạn muốn chúng ta sẽ chia xẻ về tác giả nào. Ông chú nói.

Trịnh Công Sơn đi chú. Chúng cháu rất mê nhạc của chú Trịnh, nhưng đôi khi nghe xong vẫn chưa hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của mỗi bài hát, hay là chú chia xẻ với chúng cháu về bài Đóa Hoa Vô Thường nghe chú.

Trịnh Công Sơn có thể nói là một nhạc sĩ lớn trong nền âm nhạc Việt Nam. Cuộc đời của ông đã để lại rất nhiều những tác phẩm có giá trị vượt không gian và thời gian.

Không ai có thể phủ nhận tài hoa của ông khi ông sử dụng những từ ngữ “siêu việt” trong những bài nhạc của ông. Nhưng cách ứng xử của ông, cũng có rất nhiều người không mấy hài lòng, nhất là đứng trên góc độ về chính trị.

Ở đây, chúng ta sẽ không đánh giá về cách ứng xử của Trịnh Công Sơn là Đúng hay Sai. Vì Đúng hay Sai, không phải dùng để đánh giá người khác, mà dùng để hoàn chỉnh lại chính mình.

Cho nên, chúng ta chỉ nên quan sát Nhạc của Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn của Tuệ Giác.

Nói đến nhạc của Trịnh Công Sơn là phải nói đến tính vô thường của vạn pháp. Nếu chúng ta lấy đi tính vô thường trong nhạc Trịnh, thì nhạc của Trịnh Công Sơn cũng không còn những nét đẹp như hiện tại.

Trong hầu hết các nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, chúng ta luôn gặp những cặp đối đãi dính liền với nhau. Ông vừa đưa ra điều vui trong câu trước, thì ngay trong câu sau, đã dính liền với nỗi buồn.

Cái hay trong nhạc Trịnh về nỗi buồn, không phải là một sự oán hờn, tránh móc, hay thù hận, mà nỗi buồn đi theo, để nhấn mạnh đến tính vô thường luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta trong từng mỗi phút giây.

Chúng ta vì đã qúa quen sử dụng Tiềm Thức, nên chúng ta không Ý Thức được sự vô thường đang xẩy ra chung quanh chúng ta; cho nên, chúng ta hay quá ỷ y rằng, cuộc sống hay tình cảm của chúng ta rất bền bỉ và lâu dài.

Có thể nói, nhạc Trịnh như một tiếng chuông “cảnh tỉnh”, giúp chúng ta sử dụng Ý Thức nhiều hơn để nhận diện được thực tại đang xẩy ra trong vô thường.

Cái hay của nhạc Trịnh chính là, khi Ý Thức được sự vô thường, thay vì sợ hãi, thì Trịnh Công Sơn lại chia xẻ cho chúng ta một góc nhìn mới. Góc độ đẹp của vô Thường.

Đóa Hoa Vô Thường là một bài nhạc rất lạ của Trịnh Công Sơn. Trong vài trăm bài nhạc của ông, có những bài nhạc ông diễn tả về Bản Thể, có những bài nhạc ông diễn tả về Ứng Dụng, nhưng hiếm có bài nào, ông lại diễn tả cả một qúa trình đi từ Bản Ngã đến Bản Thể, và đi từ Bản Thể về lại Bản Ngã, như bài Đóa Hoa Vô Thường này.

Ngay phần mở đầu, chúng ta đã thấy “bóng dáng của mười bức tranh chăn trâu” qua việc xác định mục đích của một người đi từ Bản Ngã đến Bản Thể.

Trong bốn câu đầu tiên, nếu chúng ta chỉ hiểu theo nghĩa đen, thì đó có thể diễn tả trạng thái của một người con trai đi tìm một người con gái đẹp, nhưng người con gái này, không phải đẹp về hình tướng, mà đẹp về tinh thần.

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai

Theo định nghĩa của Huỳnh Tịnh Của, “Mình hạc xương mai”, có nghĩa là, người có xương nhỏ ốm yếu, thanh cảnh, cốt cách lịch sự, hay sự duyên dáng của người phụ nữ.

Trong ngôn ngữ học của phương Đông, Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục hay còn gọi là Tiên Hạc.

Chim Hạc là loài đứng đầu trong họ lông vũ còn gọi là đại điểu, hay nhất phẩm điểu, có tính cách của một người quân tử, là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực thiên nhiên từ trời xanh.

Hạc loại linh vật được cho là bất tử của loài chim, là loài chim có phẩm chất cao quý, mạnh mẽ, đối đầu với khó khăn, mang lại nhiều may mắn.

Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi

Câu kế tiếp, Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục khẳng định cái đẹp như hoa khôi – đứng đầu các loại hoa.

Nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối

Trong câu này, nếu hiểu theo nghĩa đen, thì sẽ thấy vô cùng khó hiểu, vì nếu hai câu đầu đang xác định về cái đẹp rất rõ ràng, thì qua “câu nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối”, lại diễn tả về cái gì đó không được đẹp mấy. Vậy thì ý nghĩa của câu này, nếu phải hiểu, thì nên hiểu là, trong một tâm hồn yếu đuối luôn khổ đau, khi có thể nở được nụ cười, thì nụ cười đó cũng là một nét đẹp, mặc dù, nét đẹp đó rất mong manh, dễ biến mất.

Một bờ môi thơm, một hồn giấy mới

Trong câu này Trịnh Công Sơn cũng lại đưa về hình ảnh đẹp.

Nếu tóm lại, trong bốn câu trên, chúng ta thấy ông đang diễn tả về những nét đẹp đang có mặt trong cuộc đời.

Nếu hiểu theo nghĩa đi tìm người yêu, thì đây chính là mẫu người yêu lý tưởng mà ông đi tìm, người yêu này, không phải là người yêu có những nét kiều diễm về hình tướng, mà người yêu của ông, lại có những nét đẹp về tinh thần. Nét đẹp công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ, tuy cuộc đời có đầy những khó khăn khổ cực, nhưng vẫn dịu dàng, chịu đựng, hy sinh, với một tâm hồn bao dung, độ lượng.

Nhưng nếu đứng trên góc độ về nghĩa bóng, thì nhạc phẩm Đóa Hoa Vô Thường lại đang diễn tả về qúa trình trải nghiệm của ông/hành giả đi từ Bản Ngã đến Bản Thể.

Trong bốn câu trên, chúng ta thấy “bóng dáng” của bức tranh thứ nhất: Tìm Trâu, đang được ông dựng lại qua ngôn ngữ mới.

Hình ảnh “Mình Hạc xương mai, hoa khôi, nụ cười, một hồn giấy mới” là biểu hiện của sự An và Lạc khi đối diện được với sự thật mà ông mong muốn đạt được.

Tìm em tôi tìm, nhủ lòng tôi ơi

Về nghĩa đen, trong câu này, diễn tả một sự quyết tâm của một người khi đã xác định được mẫu người yêu lý tưởng, thay vì, chỉ lưu lại trong Tiềm Thức thì lại bắt đầu thực hiện ý định đi tìm của mình. Hai chữ “nhủ lòng” như một sự nhắc nhở, không được quên mục đích mình muốn đi tìm. 

Tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi

Và hành động đi tìm này, không dừng lại, dù là ngày hay đêm.

Tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay

Ngay cả những nơi chốn khó tìm, hay cả những sự việc tưởng chừng như hoang tưởng: “ngậm hạt sương bay–hạt sương đã bay, làm sao ngậm được”, nhưng vẫn đi tìm.

Tìm lại trên sông những dấu hài

Dù tìm nơi xa xăm, hay hoang tưởng vẫn không thể gặp, nên ông lại quyết định trở về, tìm lại những nơi quanh mình, xem có gặp được không.

Tìm em xa gần, đất trời rộn ràng

Và sự quyết tâm đi tìm này, không hề buông bỏ, vẫn tiếp tục đi tìm từ gần đến xa. Trong câu này, hai chữ “rộn ràng” diễn tả cảm giác như, sắp tìm ra được người yêu lý tưởng của mình trong một thời gian rất gần.

Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh

Câu này, cũng diễn tả sự đi tìm chưa hề dừng lại dù ngày hay đêm. Sương hồng là những giọt sương buổi sang; bạc mệnh có nghĩa là sắp chấm dứt số mệnh của buổi chiều, hay sắp tối.

Trăng tàn nguyệt tận chưa từng tuyệt vọng đâu em

Có thể nói, cùng một ý nghĩa diễn tả về cuộc đi tìm của ông từ sáng đến tối, nhưng qua ngôn ngữ của ông, ông đã dùng đến ba hình ảnh khác nhau như: Tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi, Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh, Trăng tàn nguyệt tận. Mỗi câu đều có những nét đẹp riêng, nhưng vẫn mang một ý nghĩa chung: từ sáng đến tối.

Trong câu này, ông vẫn tiếp tục khẳng định mục đích đi tìm của ông rất rõ ràng, không lùi bước, không hề tuyệt vọng.

Về nghĩa bóng, trong bẩy câu trên, chúng ta thấy được bóng dáng của bức tranh thứ hai và ba: Thấy Dấu, qua bốn câu trước, và Thấy Trâu, trong ba câu sau.

Trong qúa trình Thấy Dấu, chúng ta thấy, ông đã diễn tả những dấu mà ông đi tìm qua, những chữ như: nhủ lòng, tìm đêm, tìm ngày, tìm chim, tìm lại trên sông v.v.

Trong qúa trình Thấy Trâu, ông dùng những từ như: rộn ràng, chưa từng tuyệt vọng. Nếu diễn rộng hơn, chúng ta có thể thấy trong 11 câu khởi đầu thì bốn câu đầu tiên là ông xác định ông có vấn đề là những khổ đau, và ông muốn đi giải quyết những khổ đau đó.

Ông biết đằng sau những khổ đau đó là sự An Lạc và Hạnh Phúc, và ông quyết tâm đi giải quyết vấn đề. Bẩy câu sau, diễn tả ông đi tìm những nguyên nhân tạo ra vấn đề. Ông luôn vui vẻ (rộn ràng) tin tưởng (chưa từng tuyệt vọng) khi ông tìm ra được gốc rễ của vấn đề và giải quyết, ông sẽ có được sự An Lạc, Hạnh Phúc. Và câu kế tiếp ông đã dẫn chứng rất rõ ràng.

Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang

Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn

Tới đây, bài nhạc không còn có thể giảng giải theo nghĩa đen được, mà phải dựa hoàn toàn vào nghĩa thực của bài nhạc là diễn ta về quá trình trải nghiệm của một người đi từ Bản Ngã về Bản Thể, và qúa trình đi từ Bản Thể về lại Bản Ngã.

Trong hai câu này, Trịnh Công Sơn đang giới thiệu về phương pháp mà ông ứng dụng trong sự trải nghiệm, đó là: Vô Thường.

Qua sự quan sát và nhìn sâu vào vô thường, ông đã tiếp xúc được với Bản Thể. Hình ảnh “sấm bay rền vang” diễn tả một sự chấn động tận tâm can, làm thay đổi tất cả những nhận thức sai lầm của ông hay hành giả. Khi những nhận thức sai lầm không còn tồn tại, ông tiếp xúc được với Bản Thể.

Cái hay trong ngôn từ của ông là dùng chữ Bỗng. Ý nghĩa của chữ bỗng là một điều gì đó chợt xẩy ra mà không có dự liệu trước.

Vậy ông đã không dự liệu được điều gì? Điều mà ông không dự liệu được, đó là, khi có sự quan sát và nhìn sâu, chúng ta có thể tiếp xúc được với sự thật ngay tức thì, mà không cần phải tích lũy, học hỏi, hay chờ đợi cả ngàn kiếp.

Trong Thiền tông, trạng thái này gọi là Đốn Ngộ – Hiểu ra, nhận ra ngay tức thì; hay Trực Ngộ – Hiểu ra, nhận ra trực tiếp mà không qua sự suy luận.

Ba chữ “Chân Cội Nguồn” được sử dụng rất hay. Cội nguồn tức là nguồn từ gốc, và Chân là Chân Thật. Hay nói rộng hơn là Bản Thể vốn Chân Thật Như Vậy.

Nếu luận theo 10 bức tranh chăn trâu thì đây là bức tranh thứ tư: Được Trâu

Tôi mời em về đêm gội mưa trong

Có thể nói, hay nhất trong câu này là “đêm gội mưa trong”. Đêm trong Phật học thường ví với vô minh. Khi vô minh được tắm gội sạch sẽ, không còn những vướng bận thì vô minh trở thành Minh, có nghĩa là trong sáng.  Chỉ với bốn chữ, ông có thể diễn tả cả một qúa trình của ông/hành giả đi từ vô minh đến minh, một cách thần kỳ.

Chữ Em ở đây, không phải là một đối tượng, mà chính là Ngã Thức của ông/hành giả, sau những năm tháng sống trong tăm tối mê mờ đã gội rửa sạch những nhận thức sai lầm gây ra khổ đau qua sự quan sát và nhìn sâu vào vô thường.

Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm

Khi những nhận thức sai lầm gây ra khổ đau không còn tồn tại trong Tâm Thức thì Tâm Thức/Ngã Thức này chính là Tâm Phật. Bốn bề nghĩa là tứ phương đều thơm hương thanh tịnh, giải thoát, không còn bị ràng buộc.

Trong vườn mưa tạnh, tiếng nhạc hân hoan

“Vườn mưa tạnh” diễn tả Ngã Thức không còn những khổ đau. Thiền sư Nhất Hạnh, trong bài Sám Nguyện có câu: “Vườn Tâm gieo hạt giống xấu, Tham Sân Tự Ái dẫy đầy” là nói về Ngã Thức đang chất chứa những nhận thức sai lầm gây ra khổ đau. Hai chữ “mưa tạnh” có nghĩa là những giọt nước mắt khổ đau đã ngừng rơi hay chấm dứt (tạnh).

Chính vì những sự khổ đau đã tận diệt, nên có những tiếng nhạc hân hoan, An Lạc. Đây là hình ảnh của bức tranh thứ năm: Chăn Trâu, khi đang Trụ trong An của Bản Thể và có sự vui vẻ (Lạc)

Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh

Trăng trong đạo Phật được ví như Chân lý. Chân lý của đạo Phật là giải thoát khỏi những tri kiến sai lầm gây ra sự khổ đau. Nguyên nhân gây ra những nhận thức sai lầm chính là vì chúng ta đã lầm lẫn “vô thường” chính là “thường”.

Chính vì vậy, chúng ta luôn ham muốn và chiếm hữu, từ đó mới gây ra khổ đau. Nếu chúng ta luôn Ý Thức được vô thường thì chúng ta sẽ không còn ham muốn và chiếm hữu nữa. Như vậy, chúng ta có được sự giải thoát.

Hoa Quỳnh là một loại hoa nở vào ban đêm, và sẽ tàn vào buổi sáng. Trong khoảng 4-6 tiếng, hoa quỳnh sẽ “phô diễn” cả một qúa trình sinh diệt, từ nụ bắt đầu nở cánh hoa, và cuối cùng, lại khép lại những cánh hoa, khi tàn. Có thể nói, dùng hoa quỳnh để biểu tượng cho vô thường là hình ảnh đẹp và vô cùng sinh động.

Về 10 bức tranh Chăn Trâu thì đây là bức thứ sáu: Cỡi Trâu Về Nhà.

Từ nay tôi đã có người

Có em đi đứng bên đời líu lo

Từ nay tôi đã có tình

Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

Từ em tôi đã đắp bồi

Có tôi trong dáng em ngồi trước sân

Trong 6 câu này, chúng ta thấy ông dùng hai chữ rất hay, đó là: “tôi” và “người”. Nếu chúng ta đã có kinh nghiệm về 10 bức tranh Chăn Trâu, chúng ta biết, ông đang diễn tả về bức tranh thứ bẩy: Quên Trâu Còn Người.

Trong qúa trình đi từ Bản Thể về lại Bản Ngã, ông đã có được sự An Lạc Tuyệt Đối của mình, hay An Riêng, thì đây là quá trình ông đang muốn thiết lập được cái An Chung giữa cá thể và tập thể.

Từ câu “Có em … cho tới trước sân”, ông diễn tả về trạng thái An Lạc Tuyệt đối hay An Riêng của ông như thế nào. Nhưng hay nhất là hai chữ “đắp bồi”, có nghĩa là, trong cái An Riêng của ông, ông đang cộng thêm cái An Chung của mọi người vào.

Mùa đông cho em nỗi buồn

Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông

Tàn đông con nước kéo lên

Chút tình mới chớm đã viên thành

Trong bốn câu này, chúng ta thấy ông đang diễn tả về “người” hay tập thể sinh hoạt như thế nào. Những khổ đau của họ khi đang đánh mất đi sự An Lạc Thường Hằng vốn có sẵn trong mỗi một con người. Có những lúc khi tiếp xúc với tập thể, ông không thể thiết lập được cái An Chung, mà ở đó, chỉ có cái An Riêng của chính mình.

Sự độc đáo trong cách diễn đạt của ông, chính là hai chữ “chút tình”, có nghĩa là, cái tình không nhiều lắm này, chỉ muốn được sống chung với mọi người để hưởng An Chung, nhưng xem ra, cũng chẳng thể nào. Hai chữ “viên thành” ở đây, nên hiểu theo nghĩa ngược lại, có nghĩa là, không phải là sự thành đạt một cách đầy đủ, tròn đầy, mà phải hiểu là sự mong muốn sống chung với mọi người bình an đã không thể thực hiện được, và đã bị kết thúc ngay từ khi trong trứng nước (mới chớm)

Từ nay anh đã có nàng

Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca

Mùa xuân trên những mái nhà

Có con chim hót tên là ái – ân

Bốn câu này, diễn tả trạng thái khi ông thiết lập được cái An Chung cho cá nhân ông và tập thể. Hai chữ Ái Ân ở đây, không nên hiểu theo nghĩa của vợ chồng, mà nên hiểu là có sự yêu thương (ái) và những ân tình (ân) được thiết lập giữa người với người.

Hình ảnh mùa xuân nói đến sự sự hạnh phúc, ấm êm, an vui đang có trong mọi người (mái nhà). Mọi người cư xử với nhau và trao cho nhau những yêu thương và hiểu biết. Đây là bóng dáng của bức tranh thứ tám: Người Trâu Đều Quên.

 Sen hồng một nụ, em ngồi một thuở

Một thuở yêu nhau có vui cùng sầu

Từ rạng đông cao đến đêm ngọt ngào

Sen hồng một độ, em hồng một thuở xuân xanh

Sen buồn một mình

Em buồn đền trọn mối tình

Trong sáu câu này, chúng ta lại được chứng kiến qúa trình phát triển giữa An Riêng và An Chung, giữa cá nhân ông với tập thể, không phải lúc nào cũng có thể được thiết lập. Trong 6 câu này, hai chữ Sen Hồng biểu hiện cho sự An Lạc của ông, vẫn luôn khao khát được hòa chung vào trong An Chung với mọi người.

Nhưng trên thực tế, ông không thể đạt được. “Sen Buồn một mình”, có nghĩa là, nhiều lúc ông buồn, nhưng nỗi buồn này, không phải buồn vì ông không thiết lập được An Chung, mà ông buồn, vì tập thể vẫn còn đang quay cuồng sống trong những đau khổ, mà không nhận diện được cái An đang Thường hằng trong mỗi người. Cho nên, con người đã phải gánh chịu những hậu quả từ những sự khổ đau đó.

Một từ ngữ rất hay để diễn tả cho sự gánh chịu khổ đau đó là chữ “đền”. Có nghĩa là bồi thường lại, hay trả lại. Nhưng mọi người trả lại cái gì? Trả lại cái An Chung giữa người và người (trọn mối tình) đã không còn nữa, mà chỉ còn lại là những khổ đau, và bất an.

Một chiều em đứng cuối sông

Gió mùa Thu rất ân cần

Chở lời kinh đến núi non

Những lời tình em trối trăn

Một thời yêu dấu đã qua

Gót hồng em muốn quay về

Dù trần gian có xót xa

Cũng đành về với quê nhà

Trong tám câu này, ông diễn tả cả một quá trình đầy cố gắng để thiết lập An chung giữa ông với mọi người, nhưng cuối cùng thì ông vẫn không thể. Cho dù, lòng ông đầy từ bi, thương xót cho người đời, nhưng ông cũng đành phải chấp nhận hiện thực là đã vượt qúa tầm tay của ông, và ông cũng đành phải trở về sống trong cái An Riêng Tuyệt Đối của ông. Đây chính là hình ảnh của bức tranh thứ chín: Trở Về Nguồn Cội.

Từ đó trong vườn khuya

Ôi áo xưa em là

Một chút mây phù du

Đã thoáng qua đời ta

Từ đó trong hồn ta

Ôi tiếng chuông não nề

Ngựa hí vang rừng xa

Vọng suốt đất trời kia

Trong tám câu này, chúng ta lại có dịp để nhìn suốt tâm tư của ông, hay nói đúng hơn, lòng từ bi của ông lại bị rung động khi tiếp xúc với mọi người đang quay cuồng sống trong đau khổ.

Hình ảnh của “phù du, thoáng qua, hồn ta”, gợi nhớ trong ông những khi thiết lập được cái An Chung với người. Nhưng cái An Chung đó rất bạc mệnh, chỉ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian rất ngắn như tên gọi Phù Du (là tên một loài côn trùng nhỏ, có cánh, chỉ sống được vài giờ đồng hồ).

Có thể nói, ông đã tận hết sức của mình, bằng tất cả những gì ông có thể, từ thơ văn cho đến âm nhạc, hội họa, để cảnh tỉnh mọi người. Nhưng, những tiếng chuông cảnh tỉnh đó, vốn “vô cảm” với con người. Trong khi, những tiếng chuông đó có thể vang vọng lay chuyển cả trời đất.

Từ đó ta ngồi mê

Để thấy trên đường xa

Một chuyến xe tựa như

Vừa đến nơi chia lìa

Từ đó ta nằm đau

Ôi núi cũng như đèo

Một chút vô thường theo

Từng phút cao giờ sâu

Trong tám câu này, chúng ta thấy được những tâm trạng xao động của ông, và ông đang đánh mất đi cái An Riêng Tuyệt đối của chính mình. Nguyên do là vì, ông qúa thương người, muốn họ có thể sống được An Vui, nhưng ông không thể làm được. Ông đã không còn sống trong Bản Thể của chính ông để có được An Lạc, và ông lại bắt đầu mê mờ vì hai chữ “yêu thương”.

Hai chữ này đã lôi kéo ông, mà trong bài “Một Cõi Đi Về”, ông đã gọi sự yêu thương là con tinh, có nghĩa là, một loại chúng sanh có tánh linh, rất qủy quyệt, và có sự biến hóa.

Tình yêu thương, khi sử dụng mà không có sự hiểu biết, thì chính sự yêu thương cũng có thể gây ra sự khổ đau như thường.

Từ đó hoa là em

Một sớm kia rất hồng

Nở hết trong hoàng hôn

Đợi gió vô thường lên

Từ đó em là sương

Rụng mát trong bình minh

Từ đó ta là đêm

Nở đóa hoa vô thường

Nếu tám câu trên diễn tả trạng thái mê mờ vì hai chữ yêu thương con người, và muốn giúp họ, thì tám câu này, lại diễn tả hình ảnh ông trở về sống trong sự An Lạc Tuyệt đối của ông. Ông chấp nhận hiện thực, và không còn mong đợi. Ông chấp nhận, dù rằng, người đời đang sống trong đau khổ đó, nhưng khi họ có dịp tiếp xúc với vô thường, họ sẽ Ý Thức ra, và quay về sống với An Thường Hằng họ đang có.

Trong các câu: “một sớm kia rất hồng, hay rụng mát trong bình minh”, nhấn mạnh đến sự hy vọng của ông với mọi người. Ông hy vọng, họ sẽ Ý Thức được sự vô thường đang hiện hữu, và thay đổi cách sống hay ứng xử để đạt được cái An cho mình.

Trong toàn bộ bài nhạc này, chúng ta thấy, thiếu bức tranh thứ mười: Thỏng Tay Vào Chợ, nơi ông có thể thiết lập được cái An Chung và sống trong cái An chung với mọi người. Có lẽ, đó là điều ông hối tiếc nhất.

Chúng ta thấy trong hai câu cuối ông đã khẳng định, “từ đó ta là đêm” diễn tả một tâm tư u hoài của ông với con người.

Trong cuộc đời của Trịnh Công Sơn, chúng ta có thể thấy sự “thất bại” của ông trong việc thiết lập cái An Chung với mọi người.

Trong khá nhiều nhạc phẩm như bài Phôi Pha có đoạn:

“Thôi về đi, đường trần đâu có gì

Tóc xanh mấy mùa

Có nhiều khi từ vườn xưa bước về

 Bàn chân ai rất nhẹ

Tựa hồn những năm xưa”

Trong câu đầu, ông đã xác định, dù ông đã cố gắng bao nhiêu, có yêu thương bao nhiêu, có từ bi bao nhiêu để giúp con người, thì con người, họ vẫn sống quay cuồng trong khổ đau của họ, mà ông không thể nào làm thay đổi được họ, hay thiết lập được cái An Chung với họ.

“Thôi về đi” diễn tả một trạng thái đành phải chấp nhận, và cuối cùng, ông đành phải trở về để sống với cái An Riêng của mình, qua câu “tựa hồn những năm xưa”.

Hay trong nhạc phẩm “Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng” có đoạn:

Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ

Tôi là ai mà còn trần gian thế

………………………………..

Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ

Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu đêm.

Những câu này, như tự an ủi chính mình, khi ông không thể thiết lập được cái An Chung, những khát khao mong mỏi giúp người, nhưng không thực hiện được, cuối cùng, ông cũng phải Chấp Nhận.

Chấp nhận sự thật chỉ còn cái An Riêng của ông, theo cùng ông, mà không thể nào có cái An Chung với mọi người. Nỗi u hoài tiếc nuối đó, được cô đọng trong câu “có hồn ai đang nhè nhẹ sầu đêm”.

Có thể nói, nhạc của Trịnh Công Sơn là nhạc phát xuất từ tấm lòng yêu thương nhân hậu, muốn đem cái An của mình đang có để hiến tặng cho cuộc đời.

Cái khao khát lớn nhất trong cuộc đời của nhạc sĩ họ Trịnh là muốn thiết lập được cái An Chung, cái An mà mọi người có thể yêu thương nhau, trao cho nhau những hiểu biết và những ân tình nên gìn giữ.

Trong âm nhạc của ông, mỗi từ, mỗi chữ, đều mang một nguồn năng lượng chữa lành những vết thương. Dù vết thương đó được gây ra bởi con người, chiến tranh, hay những nhận thức sai lầm.

Chính vì vậy, khi nghe nhạc Trịnh, cho dù, vết thương của chúng ta có đau đến đâu, chúng ta cũng đều cảm nhận được một sự xoa dịu, một sự cảm thông, đồng cảm.

Chính những nguồn năng lượng này giúp cho những vết thương của chúng ta, tuy vẫn còn đau, nhưng không đau một cách dữ dội, tàn phá, mà những cơn đau này bắt đầu lắng dịu, nhẹ nhàng hơn.

Cháu hoàn toàn đồng ý với chú. Cứ mỗi lần cháu có niềm đau nào, khi nghe nhạc Trịnh, cháu đều có cảm nhận được sự lắng dịu, nhẹ nhàng.

Tiếc thay, ngôn từ trong nhạc Trịnh thì lại vô cùng khó hiểu, nên ít ai có thể hiểu được những tâm tư mà ông muốn gởi gấm cho mọi người. Diệu hiền nói.

Tôi thì lại tiếc cho Trịnh Công Sơn không giống như bạn. Ông chú nói.

Vậy, chú tiếc gì vậy chú?

Từ ngày có luật bản quyền, thì nhạc Trịnh đã không còn được nhiều ca sĩ hát nữa, cũng đồng nghĩa với việc, tấm lòng muốn đem những nguồn năng lượng chữa lành giúp mọi người của Trịnh Công Sơn sẽ dần chìm vào quên lãng. Trong khi, ông đã sống cả một đời đầy yêu thương nhân hậu và muốn hiến tặng những chất liệu qúy giá này cho con người, nhưng cuối cùng, cũng là không.

Có lẽ, ông đã nhận ra điều đó, nên trong hai câu kết của bài Đóa Hoa Vô Thường ông đã viết:

Từ đó ta là đêm

Nở đóa hoa Vô Thường.

Phải chăng, ông đã nhìn thấy với những nhận thức lệch lạc (từ đó ta là đêm) sau khi ông mất đi, cũng là dấu chấm hết cho tấm lòng yêu thương con người của ông, và đó cũng là định luật của vô thường chăng?

Tiếng nhạc “Đóa Hoa Vô Thường” phát ra từ chiếc điện thoại của Hoàng Trang vang lên. Cả bốn chú cháu cùng ngồi im lặng thưởng thức.

HẠNH PHÚC

album-art

00:00


TẢI MP3 – VIÊN NGUYỆT

Chiều nay, Hoàng Trang và Diệu hiền đến thăm ông chú. Như mọi lần, Diệu Hiền xà xuống ngồi bên cạnh ông chú. Không như những lần trước ngồi đối diện, lần này, Hoàng Trang cũng ngồi xuống bên cạnh ông chú, rồi nói:

Chú ơi, chiều nay chú có thể chia xẻ về hạnh phúc không chú? Nếu cháu nhớ không lầm, cháu có đọc được về định nghĩa của hạnh phúc trên một trang web nào đó, và họ cho rằng, có 10 định nghĩa về hạnh phúc là chuẩn, như sau:

  1. Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao. Ở loài người, nó mang nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí.
  2. Những người tìm kiếm hạnh phúc trên chính đôi chân của mình, chứ không phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác, luôn là những người hạnh phúc nhất.
  3. Hạnh phúc là khi con người muốn đạt được những thứ nằm trong tầm với của mình. Hãy mơ những gì có thể đạt được và từ bỏ những thứ ở xa tầm với.
  4. Hạnh phúc giống như một con bướm, bạn càng rượt đuổi, nó càng bay xa hơn. Nhưng nếu bạn không để ý đến nó, nó sẽ tự bay đến gần bạn.
  5. Khi nghĩ đến những điều tốt đẹp, con người sẽ sống hạnh phúc hơn.
  6. Không có con đường nào dẫn đến hạnh phúc, bởi hạnh phúc chính là một con đường.
  7. Hạnh phúc là khi quyền lực tăng lên và bạn có thể kiểm soát mọi thứ.
  8. Hạnh phúc là niềm vui thích chúng ta cảm thấy khi chúng ta phấn đấu đạt tới tiềm năng của chính mình.
  9. Chỉ khi nào chúng ta thỏa mãn được nhu cầu của riêng mình và cảm thấy hài lòng từ bên trong thì chúng ta mới có thể thực sự hạnh phúc.
  10. Ai đó từng hỏi tôi rằng rằng với tôi ba điều gì là quan trọng nhất để có được hạnh phúc. Câu trả lời của tôi là: một cảm giác chân thật bạn có với chính bản thân và những ai ở quanh bạn; một cảm giác bạn đã làm điều tốt nhất bạn có thể cả trong cuộc sống cá nhân và trong công việc; và có khả năng yêu thương người khác.

Thú thật, ngay bản thân cháu, cháu cũng chưa hiểu rõ ràng về định nghĩa của hai chữ này, và cháu cũng chưa biết ứng dụng làm sao cho có hiệu quả.

Này hai bạn trẻ, hai chữ hạnh phúc nếu nói theo định nghĩa của Hán Việt thì Hạnh là may mắn, nhiều an lành, thuộc về danh từ, và động từ là mừng, thích; còn Phúc là đầy tràn, đầy đủ, những sự tốt lành.

Hai chữ hạnh phúc khi ghép lại với nhau, diễn đạt sự mong chờ được hưởng những sự tốt lành, hay trong đời sống và cảnh ngộ làm cho tâm tình dễ chịu vui sướng, vừa lòng toại ý.

Nếu diễn tả trên góc độ năng lượng thì hạnh phúc là một nguồn năng lượng tích cực, có tần số rung động thanh nhẹ đem đến cảm giác thỏa mãn, dễ chịu.

Trước khi chúng ta quan sát và nhìn sâu vào hai chữ hạnh phúc, chúng ta cũng nên xem lại định nghĩa của hai chữ “định nghĩa” là gì?

Định có nghĩa là trụ lại, không xê dịch, không dời đổi, đã đúng, không sửa đổi nữa; và Nghĩa là nội dung của từ ngữ. Hai chữ định nghĩa là nội dung của từ ngữ đã đúng, không cần chỉnh sửa.

Như vậy định nghĩa của hạnh phúc có nghĩa là một nguồn năng lượng diễn tả một tâm trạng thỏa mãn, dễ chịu khi đạt được ý muốn của một cá thể.

Thông thường, khi nói về định nghĩa là chúng ta đang nói về cái nhân, còn mười định nghĩa mà bạn đưa ra đó, chỉ là quả từ cái nhân được thỏa mãn và có cảm giác dễ chịu.

Phần đông chúng ta vì ít chịu đi tìm hiểu gốc rễ của định nghĩa nên chúng ta hay diễn dịch bằng cách lấy cái quả rồi gọi đó là nhân.

Thí dụ: Trong câu “Hạnh phúc là khi con người muốn đạt được những thứ nằm trong tầm với của mình. Hãy mơ những gì có thể đạt được và từ bỏ những thứ ở xa tầm với”

Nếu chúng ta quan sát kỹ câu này, thì đây chỉ là kết quả từ cái nhân là muốn được thỏa mãn cái chúng ta đang muốn. Chứ đó không phải là định nghĩa của hạnh phúc. Chúng ta đang đi định nghĩa cái chúng ta muốn đạt được trong tầm tay của chúng ta, và cái quả mà chúng ta đạt được từ “định nghĩa diễn dịch” này sẽ dẫn đến những khổ đau thất vọng khi chúng ta không đạt được những ước mơ đó.

Trong chủ đề yêu và thương, chúng ta đã biết, khi chúng ta diễn dịch định nghĩa không đúng với “định nghĩa” thì chúng ta sẽ rơi vào những phiền lụy liên tục sau này.

Nếu chúng ta quan sát kỹ, chúng ta thấy cả mười định nghĩa được gọi là chuẩn đó, đều chỉ là cái quả từ định nghĩa là sự thỏa mãn dễ chịu đúng ý muốn mà ra.

Chính vì vậy, chúng ta ít thấy “bóng dáng” của hạnh phúc đến trong cuộc đời của chúng ta, đâu phải vì hạnh phúc không có, mà nó đã có rồi nhưng chúng ta không nhận ra.

Sự thật, không có nguồn năng lượng nào không có trong chúng ta, dù tiêu cực hay tích cực. Nếu chúng ta muốn có hạnh phúc an vui thuộc về tích cực, chúng ta chỉ cần đặt mục đích cho rõ ràng, rồi chúng ta thực tập mỗi ngày cho thành một thói quen.

Trong qúa trình tập thành thói quen, khi có bất cứ sự phiền não bất an nào đến, chúng ta phải luôn đem mục đích của mình lên để làm “lá chắn”. Chúng ta nương tựa nơi lá chắn để sự dụng ý thức nhìn sâu và giải quyết vấn đề đó.

Nếu không có “lá chắn” của mục đích thì chúng ta sẽ bị chao đảo, chúng ta sẽ bị cuốn hút vào trong vòng xoáy của những lo âu, phiền não, khiến cho chúng ta dễ dàng bỏ cuộc, hay đè nén, hay tìm cách trốn chạy vấn đề.

Dĩ nhiên sự bắt đầu bao giờ cũng khó cả, vì chúng ta chưa có kinh nghiệm. Nhưng muốn có kinh nghiệm thì chúng ta phải làm, phải thực hành; nếu không, chúng ta chỉ có một mớ kiến thức suông, chẳng giúp ích gì cho chúng ta, ngoài sự khoát lác.

Trở lại hai chữ hạnh phúc, khi chúng ta nói chúng ta đang hạnh phúc, có nghĩa là, những gì chúng ta muốn, đều được hoàn thành như ý chúng ta mong cầu, tạo cho chúng ta một cảm giác thỏa mãn vui vẻ.

Đúng trên góc độ của Ngã Thức, hạnh phúc là một nguồn năng lượng thuộc về Ngã Thức. Vì Ngã Thức ở ẩn bên trong, cho nên, chúng ta gọi nguồn năng lượng đó là hạnh phúc nội tại (hạnh phúc ở bên trong). Khác với nguồn năng lượng do tác động từ bên ngoài đem đến, hay gọi là hạnh phúc ngoại tại.

Đứng trên góc độ của tần số rung động của năng lượng thì sự rung động do tác động bên trong (hạnh phúc nội tại) hay từ bên ngoài (hạnh phúc ngoại tại) cũng không có sự khác biệt.

Nhưng nếu đứng trên góc độ ứng dụng để đạt được hạnh phúc, thì hạnh phúc nội tại dễ thực hiện hơn, và kéo dài hơn, khi đem so với hạnh phúc ngoại tại. Vì sao?

Vì hạnh phúc nội tại đang nằm trong tầm tay của chúng ta, chúng ta có quyền quyết định. Ngược lại, hạnh phúc ngoại tại thì lệ thuộc vào đối tượng. Khi đối tượng chỉ có khổ đau thì họ chỉ có thể hiến tặng khổ đau cho chúng ta mà không thể là hạnh phúc.

Chính vì vậy, nếu chúng ta cứ đi tìm hạnh phúc ngoại tại hay hạnh phúc ở bên ngoài, sẽ khó hơn khi tìm ở một người, nên chúng ta thường đi tìm ở nhiều người. Điều nghịch lý ở đây là, khi chúng ta càng tìm hạnh phúc nơi nhiều người thì nhiều người lại tạo ra những mâu thuẫn xung đột lẫn nhau, khiến cho “bóng dáng” của hạnh phúc lại càng trở nên mông lung, không hiện thực.

Nếu chúng ta có may mắn thì cũng chỉ gặp được hạnh phúc ở bên ngoài của một hay vài ai đó, trong một khoảng thời gian ngắn, rồi họ cũng sẽ rơi vào khổ đau hay phiền muộn của chính họ. Cuối cùng, điều họ hiến tặng cho chúng ta cũng là sự khổ đau, phiền não của họ.

Đây chính là lý do tại sao các diễn giả cho rằng hạnh phúc của chúng sanh là giả tạm, không thật, còn hạnh phúc của các bậc Bồ Tát Thánh Hiền thì Chân Thật. Nhưng các diễn giả lại không giải thích được sự khác biệt, tại sao của chúng sanh là giả tạm và của Bồ Tát là Chân Thật.

Nguyên do, bởi vì, về định nghĩa thì hạnh phúc nội tại hay ngoại tại đều giống nhau, nhưng về ứng dụng thì khác nhau.

Thí dụ: khi chúng ta mong muốn gặp lại người yêu, và khi chúng ta gặp được, thì sự thỏa mãn và vui mừng khi gặp được, dù là nội tại hay ngoại tại, đều giống nhau.

Với người ngoại tại, sau khi gặp gỡ, hàn huyên, người yêu đi về, khiến cho ý muốn gặp được người yêu lâu hơn không đạt được; từ đó, tạo ra cảm giác thất vọng. Khi cảm giác thất vọng có mặt lấn chiếm cảm giác hạnh phúc, khiến chúng ta rơi vào trạng thái tiêu cực. Khi Ngã Thức trong trạng thái tiêu cực, chúng ta gọi chung đó là cảm giác khó chịu.

Với người nội tại, ở đó không có sự mong cầu muốn gặp người yêu, vì với họ, hạnh phúc khi có người yêu hiểu và yêu họ, luôn có trong bộ nhớ của Tiềm Thức. Cho dù, họ có gặp hay không gặp người yêu thì người đó vẫn luôn có mặt mỗi khi Ngã Thức muốn tiếp xúc. Cho nên, dù có gặp hay không gặp người yêu, thì hạnh phúc bên cạnh người yêu của họ vẫn có trong sẵn kho của Ngã Thức.

Vì vậy, nếu có gặp mặt hay không, thì hạnh phúc đó vẫn có đó. Nếu có khác chăng là gặp thật hay gặp trong Tiềm Thức. Nhưng dù gặp như thế nào cũng không quan trọng, điều quan trọng là sự tác động tạo ra cảm giác nơi Ngã Thức.

Trong Ngã Thức chúng ta có nhiều nguồn tác động. Có sự tác động từ ngoại cảnh, có sự tác động của nội tâm, có sự tác động của Thân Thể Thức, v.v nhưng dù sự tác động nào, điểm cuối cùng, chính là cảm giác nào sẽ có mặt trên Ngã Thức, mới là điều quan trọng.

Nếu chúng ta thực tập một cách nghiêm chỉnh, chúng ta đừng phí thời gian vào việc tranh luận là nguồn tác động nào quan trọng hơn nguồn nào, mà chúng ta nên chú trọng tới qúa trình phát triển, thì chúng ta có thể có hạnh phúc kéo dài.

Trong những lần chia xẻ về nhân quả, chúng ta đã quan sát rất kỹ về quá trình này, cho nên, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc thì chúng ta nên sử dụng qúa trình này trong ứng dụng.

Thói quen của chúng ta, khi đi tìm hạnh phúc, thường hay chọn cách “nằm ngoài tầm với” hơn là làm những gi “trong tầm tay” của chúng ta.

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, khi chúng ta làm việc gì ngoài tầm với thì cơ hội mà chúng ta té ngã khá nhiều. Dĩ nhiên, có đôi khi chúng ta cũng thành công, nhưng nếu chúng ta chỉ cầm kiểm nghiệm lại, chúng ta sẽ thấy cơ hội thành công rất ít so với cơ hội thất bại.

Ai trong chúng ta cũng biết rằng, khi làm việc gì đó trong tầm tay, chúng ta sẽ vững vàng hơn, tự tin hơn, và dễ đạt được kết quả mà chúng ta mong muốn hơn.

Tiếc thay, trong qúa trình đi tìm hạnh phúc, đa số chúng ta lại luôn chọn ứng dụng “nằm ngoài tầm với”.

Chúng ta tin và lý luận rằng, hạnh phúc vốn từ người khác ban phát cho chúng ta. Chính vì vậy, chúng ta luôn hướng ngoại để tìm hạnh phúc.

Thí dụ, một người buồn chán, thay vì ứng dụng phương pháp bốn bước để giải quyết sự buồn chán của mình, lại khởi ý niệm, đi tìm một người bạn đi chơi để giải quyết sự buồn chán này. Người đó nghĩ rằng, khi mình được đi chơi với người bạn này, mình sẽ có hạnh phúc.

Cho nên, người này quyết định đi gặp người bạn. Khi đến nhà bạn, người bạn đang có chuyện bực mình, nên cau có, khó chịu, trách mắng, và từ chối đi chơi cùng.

Người này rơi vào trạng thái hụt hẫng, khó chịu và tự ái. Khó chịu vì ý muốn giải quyết sự buồn chán không được thỏa mãn; tự ái vì bị người bạn “xem thường”, nên nẩy sinh cảm giác tức giận. Nguồn năng lượng “không tên” bao gồm: tức giận, tự ái, buồn chán cùng hiệp lực bùng nổ, khống chế Ngã Thức, khiến Ngã Thức bị “tê liệt”, đưa đến những hành động vụng dại, nói những lời nói khó nghe, hay dựng chuyện qua phỏng đoán, nói không đúng với sự thật.

Người bạn khi nghe xong đã tức giận, đuổi người đó ra khỏi nhà, và thề không muốn gặp lại người đó.

Ban đầu chỉ là sự buồn chán và muốn đi tìm hạnh phúc từ người bạn. Nhưng sau khi gặp người bạn xong, người này vừa đau khổ vì bị nguồn năng lượng không tên dẫn dắt, nay lại mất đi người bạn có thể cho người đó chút hạnh phúc.

Ngược lại, trong trường hợp khi đến nhà bạn, và người bạn vui vẻ đi chơi cùng, thì người đó đạt được hạnh phúc, vì người bạn giúp cho người đó giải quyết được nỗi buồn chán đang có trong lòng.

Ở đây, chúng ta phải hiểu nỗi buồn chán này chỉ là những nỗi buồn chán vu vơ như nhà thơ Xuân Diệu “hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Chứ không phải những nỗi buồn chán mang tính “hình sự” như vừa cãi nhau với người yêu.

Nếu nỗi buồn chán mang tính “hình sự” thì dù có đi chơi, có hạnh phúc được thõa mãn, nhưng khi về nhà một mình, sự buồn chán đó vẫn tiếp tục tồn tại và tiếp tục “ngự trị” trong Ngã Thức. Cho dù, lúc đi chơi đã tạm được thay thế bằng cảm giác hạnh phúc.

Hiện tượng này được gọi là cảm giác hạnh phúc tạm thời, hay còn gọi là giả tạm, vì vấn đề của nỗi buồn chán chưa được giải quyết một cách rốt ráo, nên chưa đạt được hạnh phúc lâu dài hay hạnh phúc chân thật.

Đúng ra, chúng ta không nên gọi là giả tạm hay chân thật, vì dễ gây ra sự hiểu lầm. Chữ chính xác nên dùng là hạnh phúc ngắn hạn và hành phúc kéo dài sẽ giúp chúng ta không rơi vào sự hiểu lầm về định nghĩa của hạnh phúc là có thật và có giả, mà là qua sự ứng dụng có ngắn hay dài, nhưng sự thật thì định nghĩa vẫn giống nhau, không có giả và không có thật.

Ngược lại, hạnh phúc nội tại sẽ có mặt khi chúng ta áp dụng phương pháp bốn bước để giải quyết vấn đề. Khi vấn đề được giải quyết triệt để, chúng ta đạt được cảm giác thỏa mãn ý muốn, và đạt được trạng thái hạnh phúc. Trạng thái hạnh phúc này sẽ khéo dài cho đến khi nào có một sự khởi niệm mới, hay một cảm giác tiêu cực khác thay thế. Nếu không có cảm giác tiêu cực thì lúc đó cảm giác thỏa mãn vẫn tiếp tục có mặt, hay hạnh phúc có mặt dài hơn, bất chấp là sự buồn chán đến từ buồn vu vơ hay buồn chán “hình sự”.

Với sự ứng dụng này, chúng ta hoàn toàn chủ động, chúng ta không bị lệ thuộc vào bất cứ một ai. Chúng ta đang giải quyết vấn đề trong tầm tay của chúng ta, và chúng ta có thể kéo dài hạnh phúc theo ý chúng ta muốn.

Muốn đạt được điều này, chúng ta có thể dùng mục đích làm Giới cho chúng ta. Có nghĩa là, chúng ta biến mục đích hay Giới làm “lá chắn” để che chở cho chúng ta, khi có những nguồn năng lượng tiêu cực nẩy sinh trong Ngã Thức.

Khi có một nguồn năng lượng tiêu cực nẩy sinh, Ngã Thức của chúng ta sẽ dùng mục đích để hướng Ý Thức của chúng ta đi tìm những giải pháp qua việc sử dụng Trí hay Tuệ.

Cách phân biệt giữa Trí và Tuệ khá đơn giản. Khi nào chúng ta thấy cách giải quyết chỉ qua nhìn nông cộng thêm phỏng đoán và tưởng tượng, thì chúng ta biết chúng ta đang dùng Trí.

Hay, chúng ta cũng có thể sử dụng cái quả mà chúng ta nhận, để biết được cái quả đó có biến thành nhân và tạo ra các hậu quả khác không. Nếu không, chúng ta biết chúng ta đang sử dụng Tuệ. Nghĩa là, ra đúng kết quả mà chúng ta muốn, mà không có những hậu quả khác theo sau.

Về mục đích thì chúng ta có thể có vô vàn mục đích. Chúng ta có thể chọn bất cứ mục đích nào. Nhưng cách dễ nhất vẫn là mục đích An hay Hạnh Phúc, vì hai mục đích đó luôn là khát khao mong ước của con người từ lúc mới sinh ra cho đến lúc mãn phần.

Còn những mục đích khác thì thường hay rơi vào thế ngắn hạn. Khi chúng ta đạt được hay không, thường rơi vào tình trạng không liên tục, nghĩa là, dù bỏ cuộc giữa chừng hay khi mục đích đó đã hoàn tất. Nếu như, ngay sau khi mục đích đó đã hoàn thành hay bỏ cuộc, mà chúng ta không có một mục đích nào khác tiếp nối, chúng ta sẽ rơi vào trạng thái không có mục đích.

Khi cuộc sống của chúng ta rơi vào trạng thái sống không có mục đích, hay không có sự ham muốn, thì lúc đó, Ngã Thức của chúng ta sẽ rơi vào trạng thái trung tính. Thông thường, sống trong trạng thái trung tính, mang tích cách bình bình, tạo ra cho chúng ta cảm giác buồn chán, và khơi dậy nguồn năng lượng tiêu cực.

Dĩ nhiên, đó là những hiện tượng dành cho những ai trong chúng ta đặt mục đích không phải là mục đích dài hạn. Đối với những người đặt mục đích dài hạn như An Lạc và Hạnh Phúc, thì ngoài mục đích dài hạn, họ vẫn có những mục đích ngắn hạn.

Nhưng khi thực hiện những mục đích ngắn hạn, trong qúa trình phát triển mục đích, họ vẫn sử dụng mục đích An hay Hạnh Phúc làm “la bàn”, hay định hướng cho những cách thức giải quyết.

Nếu trong qúa trình đó đi ngược lại mục đích An hay hạnh phúc, và tạo ra rất nhiều bất An hay không có hạnh phúc, họ sẽ dừng lại và tìm một mục đích khác. Vì sao? Vì họ biết, nếu trong qúa trình phát triển mà đã có bất An và không có hạnh phúc thì cái quả họ đạt được sẽ là hậu quả, sẽ đem đến rất nhiều hệ lụy.

Họ dừng lại không phải họ không có khả năng đạt được cái quả, mà bởi vì, họ không muốn phí thời gian. Thay vào đó, họ tìm mục đích khác mà mục đích đó, trong quá trình phát triển có An Lạc, Hạnh Phúc để thực hiện.

Chú ơi, chú có thể dùng một thí dụ để minh họa cho chúng cháu hiểu rõ về mục đích An ứng dụng chung với các mục đích khác không chú? Hoàng Trang nói.

Thí dụ: Mục đích của bạn muốn thành lập một trung tâm Tư Vấn Tâm Lý để giúp cho những bịnh nhân có xáo trộn về tâm lý, có thể có được An Lạc và Hạnh Phúc sau khi được bạn chữa trị hay cố vấn. Bạn muốn trung tâm của bạn thành công, nhưng bạn lại không có đặt mục đích An hay Hạnh Phúc làm nền.

Trong qúa trình phát triển để đạt được mục đích, bạn phải dùng tiếp thị để kiếm bịnh nhân. Thay vì, dùng tiếp thị, bạn lại dùng quảng cáo.

Có sự khác biệt giữa quảng cáo và tiếp thị, nhưng phần đông chúng ta lại lầm lẫn tiếp thị là quảng cáo, hay ngược lại.

Quảng có nghĩa là rộng rãi, Cáo có nghĩa là thông báo; hay quảng cáo là thông báo rộng rãi, nói rộng ra cho mọi người cùng biết, hay làm cho mọi người biết đến.

Còn Tiếp nghĩa là nối theo, nối tiếp, nối liền, liên tục, và Thị nghĩa là chợ, nơi có đông người mua bán (danh từ), thích, nghiện, ham (động từ). Tiếp Thị nghĩa là liên tục khơi dậy lòng ham muốn hay ưa thích của con người.

Thông thường, với một bịnh nhân mới, vì họ chưa biết đến sự phục vụ của bạn, nên họ chẳng ưa thích hay ham muốn sử dụng dịch vụ của bạn, cho nên, họ chẳng có tin tưởng gì về bạn cả.

Nhiệm vụ của tiếp thị là làm sao phải khiến cho bịnh nhân mới của bạn biết về dịch vụ của bạn như thế nào. Đây là vấn đề khó nhất của người làm tiếp thị.

Với những người giỏi về tiếp thị, họ phải biết đưa ra những khó khăn mà bịnh nhân của bạn đang gặp phải, và phải đưa ra những cách thức bạn sẽ giải quyết những vấn đề cho bịnh nhân ra sao, và phải chứng minh được kết quả đó là có thật.

Khi những bịnh nhân mới, chưa biết về dịch vụ của bạn, họ sẽ qua thông tin tiếp thị của bạn để biết được những lợi ích mà họ có được khi sử dụng dịch vụ của bạn. Sau đó, bạn mới tiếp nối những thông tin đó bằng những ngôn từ khích thích sự ham muốn sử dụng của họ.

Khi bạn đã thành công khích thích được sự ham muốn của họ rồi, và họ đã đến sử dụng dịch vụ của bạn, bạn mới bắt đầu sử dụng quảng cáo để tăng thêm sự tin tưởng của họ vào dịch vụ của bạn, và biến họ thành bịnh nhân trung thành với dịch vụ của bạn.

Đó chính là quy trình của tiếp thị và quảng cáo. Nhưng phần đông các doanh nghiệp, khi sử dụng tiếp thị và quảng cáo không hiểu rõ ràng, nên thay vì tiếp thị thì họ lại đi quảng cáo giảm giá, trong khi, bịnh nhân của họ chưa biết gì về dịch vụ của họ, cũng như. các khó khăn mà người bịnh đang có là gì, và làm sao dịch vụ có thể giúp họ giải quyết thì lại không nhắc đến. Cho nên, dù doanh nghiệp có giảm giá, họ cũng chẳng quan tâm, vì họ có biết gì về dịch vụ của doanh nghiệp đâu mà họ ưa thích hay ham muốn dùng dịch vụ.

Vì vậy, trung tâm của bạn sẽ rơi vào tình trạng thiếu bịnh nhân; trong khi, trung tâm của bạn cần phải có bịnh nhân mới có thể có đủ tiền để chi trả tiền mướn trung tâm, cũng như các chi phí cho cuộc sống của bạn.

Nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài, bạn sẽ rơi vào sự thất vọng, chán nản, lo âu và phiền muộn. Khi những vấn đề này cứ tiếp tục gia tăng, cuối cùng bạn phải đóng cửa trung tâm trong sự thất vọng, chán chường.

Nếu như bạn may mắn có được thành công, nhưng trong qúa trình thực hiện lại không có mục đích của An hay hạnh phúc, thì trong sự phục vụ của bạn, chỉ mang yếu tố phục vụ, chứ không phải là chia xẻ từ chính kinh nghiệm của bạn.

Vì bạn chẳng có An hay Hạnh Phúc, nên những gì bạn đưa ra phương pháp giải quyết, chỉ là những kinh nghiệm dựa trên sách vở. Cho nên, những gì bạn cố vấn hay chữa trị chỉ là phần ngọn, không đem đến sự giải quyết triệt để. Vì vậy, vấn đề đó sẽ “vắng mặt” trong một khoảng thời gian ngắn, rồi sau đó trở lại, khiến cho uy tín của bạn sẽ bị ảnh hưởng rất trầm trọng trong tương lai.

Khi điều đó xẩy ra, bạn sẽ rơi vào những “áp lực” vô hình từ những lời đồn thổi, khiến cho trung tâm của bạn càng lúc càng rơi vào tình trạng thiếu bịnh nhân; hay nguy hiểm hơn, bịnh nhân sẽ không tin tưởng vào bạn, nên không còn hợp tác với bạn để giải quyết vấn đề, mà còn tạo ra những thông tin giả, khiến cho phục vụ của bạn càng khó khăn hơn, và tạo ra cho bạn rất nhiều phiền muộn và khổ đau với họ.

Nếu như mục đích mở trung tâm của bạn kết hợp với dùng mục đích An hay hạnh phúc trong qúa trình phát triển thì khi dùng tiếp thị, bạn sẽ dùng chính những kinh nghiệm của bạn, khi bạn có vấn đề, bạn giải quyết ra sao để bạn có được An hay hạnh phúc kéo dài làm những thông tin trung thực của bạn. Khi họ biết được sự phục vụ của bạn, họ đến dùng dịch vụ của bạn, và đạt được kết qủa như họ muốn, họ sẽ tin tưởng bạn.

Khi họ đã tin tưởng bạn, họ sẽ giới thiệu những người quen của họ khi có vấn đề đến gặp bạn, lúc đó, có khi bạn không cần đến quảng cáo nữa, vì chính những bịnh nhân của bạn đã làm việc quảng cáo cho bạn miễn phí.

Trong qúa trình phát triển khi tiếp xúc với bịnh nhân, bạn không những, giúp cho bịnh nhân của bạn giải quyết được vấn đề của họ, mà ngay trong qúa trình đó, bạn cũng được học hỏi và trải nghiệm nhiều hơn. Điều này sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều cho những lần chữa trị kế tiếp, hay cho những bịnh nhân có cùng bịnh chứng.

Quan trọng nhất, bạn sẽ không rơi vào trong trường hợp “ôm” những vấn đề của bịnh nhân vào bạn, và phải đi tìm một bác sĩ tâm lý khác để giúp bạn giải quyết.

À, cháu cũng có chút kinh nghiệm về việc đặt mục đích An hay hạnh phúc vào một vài mục đích khác của cháu, nhưng cháu lại không biết, chúng ta có thể áp dụng mục đích An hay hạnh phúc vào tất cả mọi mục đích. Nhưng nếu như trường hợp có mục đích An hay hạnh phúc mà thất bại thì sao chú?

Cũng đơn giản thôi, đâu phải chỉ có trung tâm tư vấn mới giúp được người, bạn vẫn có thể làm tư vấn cho từng cá nhân qua điện thoại, qua những trang web, trên diễn đàn có trả tiền hay trên Youtube, v.v.

Điều quan trọng là bạn phải có An và có Hạnh Phúc.

Muốn có An và hạnh phúc, bạn phải đặt những mục đích này làm mục đích của bạn. Sau đó, bạn thực hành trong đời sống hàng ngày của bạn. Khi bạn đã có trải nghiệm, bạn có phương pháp rõ ràng, và bạn dùng chính sự trải nghiệm và phương pháp để kiếm tiền, không những bạn có An Lạc và Hạnh Phúc cho chính bạn, mà những gì bạn tư vấn hay giúp cho người khác, cũng là chân thực, không phải qua những kinh nghiệm tích lũy từ sách vở.

Chúng ta phải nhớ rằng, kinh nghiệm của người khác, chúng ta chỉ nên dùng để kiểm chứng lại sau khi chúng ta có sự trải nghiệm thật sự, chứ đừng bao giờ lấy kinh nghiệm của họ làm của mình, mà chưa qua quá trình trải nghiệm và thực nghiệm.

Tóm lại, dù chúng ta muốn đặt mục đích là An hay Hạnh Phúc thì tùy mỗi người trong chúng ta lựa chọn. Chúng ta cũng có thể chọn vui, chọn hoan hỷ, v.v. Nhưng dù chúng ta chọn mục đích là gì thì điều kiện bắt buộc đó là mục đích đó phải liên tục. Có nghĩa là, mục đích đó phải là khát khao, mong muốn từ lúc mới sinh ra cho tới lúc mãn phần mà chúng ta luôn đi tìm kiếm.

Muốn đạt được trạng thái An hay Hạnh Phúc thì cách dùng đơn giản, nhanh nhất, và đạt hiệu qủa tối ưu là phương pháp bốn bước, gồm:

Bước một: Xác Định Có Vấn Đề

Bước hai: Đi Tìm Nguyên Nhân Tạo Ra Vấn Đề

Bước Ba: Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề

Bước Bốn: Thời Gian Giải Quyết Vấn Đề

Nếu chúng ta ứng dụng đúng cách và thực tập liên tục cho đến khi trở thành thói quen thì chắc chắc chung ta sẽ có được hạnh phúc lâu dài, hay An lâu dài, mà không cần lệ thuộc vào bất cứ một đối tượng ở bên ngoài “ban phát” cho chúng ta.

Dĩ nhiên, khi chúng ta sinh hoạt với các đối tượng bên ngoài, chúng ta cũng nhận được An hay hạnh phúc từ họ, nhưng An hay hạnh phúc đó chỉ là phần “tô điểm” chứ không phải là nguyên liệu chính.

Cho nên, có cũng tốt, mà không có cũng không sao. Vì vậy, chúng ta không cần phải “giãn cách”, “cách ly” hay “tránh né” đối tượng, mà chúng ta vẫn sinh hoạt hết sức bình thường với họ. Khác biệt chỉ là chúng ta chủ động tạo ra hạnh phúc của chúng ta, mà không bị động chờ họ ban phát.

Cháu thì rất hạnh phúc khi được đi mua sắm mà không có anh Nhật minh, và chỉ số hạnh phúc của cháu sẽ giảm dần khi anh Nhật Minh không chịu móc ví trả tiền.

Ba chú cháu cười vui vẻ trước câu nói đùa của Diệu Hiền.

Những con chim đậu trên cành cây hót vang những tiếng ríu rít, như đang chia xẻ hạnh phúc đến loài người.

NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN
TẢI MP3 – QUẢNG BẢO TÂM

Chiều nay, Diệu Hiền và Nhật Minh lại đến thăm ông chú. Sau những câu chào hỏi, Diệu Hiền đã xà xuống, ngồi bên cạnh ông chú, rồi nói:

Chú ơi, tối qua, sau khi đi ăn với chú về, cháu và anh Nhật Minh đã cùng nhau chia xẻ về Nghiệp và Luân Hồi.

Theo sự hiểu biết của cháu, Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ Giáo được truyền giảng trong các Kinh Vệ Đà và Áo Nghĩa Thư, vào khoảng 1500 năm trước công nguyên. Như vậy, hai ý niệm này đã có trước khi giáo lý về Nghiệp và Luân Hồi của đức Phật được truyền giảng.

Đứng trên góc độ trải nghiệm về các kinh của Ấn Độ giáo thì cả hai đứa cháu đều không có nhiều hiểu biết về Nghiệp và Luân hồi được họ truyền giảng như thế nào.

Nhưng đứng trên góc độ của đạo Phật, theo cháu hiểu, thì Nghiệp là hành động chịu ảnh hưởng của luật Nhân Quả, vì mỗi một hành động làm ra, được gọi là nguyên nhân, đều có một hậu quả tương ứng; và hậu quả sẽ trở thành nguyên nhân cho một hậu quả kế tiếp.

Nhưng trong một số kinh điển khác của đạo Phật thì lại cho rằng: không phải hành động nào cũng tạo ra Nghiệp. Nghiệp chỉ được tạo ra khi có một sự tác ý, và khi đã tạo ra Nghiệp thì Nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sự tái sanh trong vòng sinh tử luân hồi.

Tuy cháu và anh Nhật Minh cũng đã tham khảo và nghiên cứu khá nhiều kinh điển, nhưng chúng cháu vẫn cảm thấy rất mơ hồ về Nghiệp và Luân Hồi, chú có thể chia xẻ với chúng cháu sự quan sát của chú về Nghiệp và Luân hồi được không?

Này hai bạn trẻ, Nghiệp và Luân Hồi là một đề tài rất lớn, và mỗi một tôn giáo, bao gồm: Ấn Độ giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, và Hồi giáo, v.v. đều có những quan niệm và cách diễn giải riêng tùy thuộc vào giáo lý mà tôn giáo đó và các tín đồ của tôn giáo đó, Tin theo như thế nào.

Cho nên, rất khó để có thể đưa ra, đâu là chuẩn và đâu là cần chỉnh.

Như những lần trước tôi đã chia xẻ, muốn biết được đâu là chuẩn thì chúng ta cần phải tiếp xúc được với sự thật. Nếu chúng ta không thể tiếp xúc được với sự thật thì tất cả những gì chúng ta diễn giải đều chỉ là những phỏng đoán mà thôi.

Trước khi chúng ta dùng sự quan sát và nhìn sâu vào Nghiệp và Luân Hồi, tôi nghĩ, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về những quan điểm cũng như giáo lý của các tôn giáo diễn giải về Nghiệp và Luân Hồi như thế nào?

Tôi còn nhớ, có đọc một bài của tác giả nào đó không để tên trên Lạc Tửu Lâu. Tác giả vô danh đó đã viết một bài khảo cứu về Nghiệp và Luân Hồi như sau:

Theo Hindu giáo, luật nhân quả được biểu hiện qua cặp nhị nguyên là: Nghiệp Báo và Luân Hồi.

Ấn Độ giáo quan niệm rằng, linh hồn của bất kỳ một thể sống nào, bao gồm: động vật và thực vật; khi chết đi, hay hoại diệt, và đầu thai, đều có liên hệ một cách phức tạp với Nghiệp.

Nghiệp hay gọi đúng hơn là Nghiệp Báo, theo Hindu giáo, là tổng số các hành động của một người, và là lực, sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người đó qua vòng xoay, luân chuyển (Luân Hồi) của việc chết và tái sinh.

Theo tư tưởng Nghiệp Báo và Luân Hồi, kinh Upanishad (Áo Nghĩa Thư – kinh điển với ý nghĩa uyên áo, giữa thầy và trò) cho rằng: Con người sẽ trở nên tốt, nhờ họ có những hành động tốt trong cuộc sống, và họ sẽ trở nên xấu nếu cuộc sống của họ có nhiều hành động xấu.

Và để diễn rộng hơn, kinh Áo Nghĩa Thư, đã dẫn chứng những ví dụ như:

Nếu người nào sống có những hành vi tốt đẹp thì sau khi chết sẽ đầu thai vào kiếp khác tốt đẹp hơn, hoặc thành Bà La Môn, hoặc thành người quý tộc, hoặc thành thương nhân.

Còn những ai có hành vi xấu xa, sau khi chết, sẽ phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như: kiếp chó, kiếp heo, ngạ quỷ, hay những kẻ nô lệ hèn mọn, làm tôi tớ cho người khác, v.v.

Bên cạnh đó, quan điểm về Luân Hồi, còn được thể hiện trong các thuyết Ashrama (những bước trong hành trình của cuộc sống), về bốn giai đoạn mà con người phải trải qua để đạt được sự giải thoát của linh hồn, tức là tránh khỏi Luân Hồi, bao gồm:

  • Học tập
  • Lập gia đình, tạo sự nghiệp
  • Hướng về tâm linh
  • Thoát ly xã hội để tu hành

Bốn gia đoạn này, cũng được diễn giải qua tư tưởng Brahman (Đại Ngã) và Atman (Tiểu Ngã).

Cũng theo Áo Nghĩa Thư, đại ngã là nguồn gốc tối cao của vũ trụ; và đại ngã là đại vũ trụ, là đại hồn, hay còn gọi là Thượng Đế. Còn tiểu ngã là bản ngã của con người. Hay, tiểu ngã là tiểu hồn, là tiểu vũ trụ. Và tiểu ngã chỉ là một phần rất nhỏ từ đại ngã tách ra.

Do đó, đại ngã và tiểu ngã vốn đồng về bản chất, nên đại ngã và tiểu ngã có thể tương thông được với nhau. Vì vậy, tiểu ngã có thể nhờ sự tu luyện để đạt được sự giải thoát của linh hồn, thoát khỏi các khổ não ràng buộc nơi cõi trần, và có thể đem tiểu ngã trở về hợp nhất với đại ngã.

Nếu tiểu ngã nào không thể giải thoát được những ràng buộc, và vẫn không dứt khỏi nghiệp thì tiểu ngã đó không dứt khỏi Luân Hồi và phải đầu thai trở lại cõi trần, hết kiếp này đến kiếp khác.

Dựa trên những định nghĩa và cách diễn giải về luật Luân Hồi này, đã giúp cho các thầy tu Bà La Môn giải thích được cho các tín đồ Hindu giáo, về lý do tại sao lại có sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ của ngày xưa cũng như ngày nay.

Vậy còn quan điểm về Nghiệp và Luân Hồi theo đạo Phật thì sao?

Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc con người trong luân hồi sinh tử, chính là tam độc: tham, sân và si.

Luân Hồi tuân theo nguyên tắc của luật Nhân Quả, luân chuyển qua sáu cõi, tùy vào nghiệp của con người đã tạo ra trong quá khứ, mà người đó, sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi, gồm: Trời-Thần; Người; Atula; Súc Sinh; Quỷ Đói (Ngạ Quỷ); và Địa Ngục.

Còn định nghĩa của Nghiệp theo đạo Phật là hành động hay việc làm. Nghiệp được gây nên bởi hành, cụ thể là do thân, khẩu, ý, tạo ra.

Thế nên, tùy theo Nghiệp Báo mà chúng ta có thể sinh ra trong một tình trạng, hay hoàn cảnh nào đó, tùy thuộc vào chính những hành động của chúng ta trong quá khứ đã tạo nên.

Nếu trong kiếp hiện tại, mặc dù, chúng ta sống một đời sống trong sạch, nhưng chúng ta lại gặp phải những điều bất hạnh thì chúng ta phải biết rằng, đó là, do nghiệp xấu của ta trong quá khứ đã tác động, mà có.

Trái lại, nếu chúng ta đang sống trong một đời xấu xa, tội lỗi, nhưng chúng ta vẫn đang được hưởng an vui hạnh phúc, giàu sang, may mắn, thì đó, cũng là do nghiệp tốt của chúng ta đã tạo trong quá khứ, mà có.

Đạo Phật quan niệm rằng, kiếp sau của chúng ta như thế nào, tùy thuộc vào 4 loại nghiệp như sau:

  • Nghiệp Cận Tử: Đây là nghiệp quan trọng nhất. Khi chúng ta sắp chết chúng ta sẽ tiếc nuối vòng đời, chúng ta sẽ được tua lại, trong đó, có những việc chúng ta tiếc là mình đã làm, và cũng có những việc chúng ta tiếc là đã không làm
  • Tích Lũy Nghiệp: là nghiệp sinh ra trong quá trình chúng ta sống. Nghiệp được sinh ra bởi Tâm, Thân, Khẩu. Mỗi một lời nói, suy nghĩ, hành động của chúng ta đều giống như đang gieo hạt, và hạt đó sẽ sinh ra quả tốt hay xấu tương ứng
  • Tập Quán Nghiệp: là thói quen của chúng ta sinh ra nghiệp
  • Cực Nghiệp: Nghiệp tạo ra, gây ra hậu quả nghiêm trọng, trái với luân thường đạo lý như: giết người.

Luật Nhân Quả trong Phật giáo, cũng khá tương đồng với Hindu giáo, trong quan điểm về Nghiệp Báo và Luân Hồi. Nhưng đứng trên góc độ xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, không phân biệt cao thấp, thì Phật giáo lại đi ngược lại với xã hội phân chia gia cấp hay phân biệt đẳng cấp mà Hindu giáo muốn tạo dựng.

Đó là những nét căn bản về định nghĩa, cũng như quan điểm và diễn giải của Hindu giáo và Phật giáo về Nghiệp và Luân Hồi.

Vậy còn quan điểm về, Con Đường Giải Thoát theo Hindu giáo và Phật giáo thì như thế nào?

Đứng trên góc độ của bản thể luận đến hiện tượng luận, thì cả Phật giáo lẫn Hindu giáo đều thống nhất rằng: cuộc đời này là sự giả tạm, là đau khổ. Bởi thế, sự giải thoát khỏi sự giả tạm và khổ đau là yêu cầu cấp thiết nhất mà tất cả các thế hệ tư tưởng của Ấn Độ đều nỗ lực tìm kiếm.

Tuy nhiên, nếu đứng trên góc độ về triết lý và tư tưởng, thì hai tôn giáo này đều có những mục đích khác nhau.

Đối với Hindu giáo, nếu một tiểu ngã muốn đạt được sự giải thoát thì tiểu ngã đó phải quay trở về với bản thể Phạm Thiên (đại ngã). Vì sao?

Bởi vì, Tiểu Ngã đã ngày càng xa rời khỏi những quy luật của đấng sáng tạo Phạm Thiên tạo ra. Linh hồn của tiểu ngã đã bị vô minh, dục vọng làm ô nhiễm nên bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi và khó có thể trở về hợp nhất với đại ngã được nữa.

Cho nên, muốn trở về, tiểu ngã cần phải diệt được dục vọng, và vô minh. Và muốn diệt được dục vọng, và vô minh, thì phải dùng Yoga để đạt được những trạng thái thiền định. Chính trạng thái thiền định này sẽ giúp cho tiểu ngã hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng của Ý Thức, nơi mà, theo quan điểm của Hindu giáo, chính là nguyên nhân gây ra: sự phân biệt đối đãi, vô minh, và ham muốn của tiểu ngã.

Bởi thế, Hindu giáo, chủ trương dùng trí tuệ đạt được, qua cách thể nhập vào các loại định Yoga để loại bỏ sự kiềm tỏa của Ý Thức. Khi sự kiềm tỏa từ Ý Thức bị đứt đoạn, rụng rơi, thì lúc đó, tiểu ngã mới có sự giải thoát, và tiểu ngã mới có thể được hòa nhập vào đại ngã.

Còn đối với Phật giáo, phạm trù giải thoát, bao gồm: đối tượng để giải thoát, phương pháp và kết quả:

Về đối tượng giải thoát, Phật giáo cùng quan điểm với Hindu giáo rằng: cuộc đời của con người là đau khổ. Và nỗi khổ này, không có nguyên nhân nào khác ngoài vô minh, ái dục. Cho nên, muốn hết khổ thì phải loại bỏ những nguyên nhân này.

Tuy nhiên, quan điểm về vô minh của Phật giáo lại khác với Ấn Độ giáo, khi Ấn Độ giáo cho rằng: vô minh là do mối quan hệ giữa Ý Thức và cảm giác hiện tượng quá sâu đậm dẫn đến sự mê đắm, từ đó, đánh mất đi tính chất thanh cao của bản ngã nên bị luân hồi sanh tử; thì Phật giáo, lại cho rằng: khi người thực tập không đủ khả năng nhận ra được bản chất như thật của các pháp thì đó gọi là vô minh.

Bản chất Như Thật ở đây, tức là bản chất Không Thật Tính của các pháp. Và Phật giáo cũng cho rằng: muốn giải thoát, thì người thực tập phải có khả năng nhận ra được bản chất Như Thật của các pháp.

Trong khi quan điểm của Hindu giáo, chú trọng vào việc đưa bản ngã của con người ra khỏi tầm ảnh hưởng của Ý Thức, thì Phật giáo lại chú trọng đến sự phát triển Ý Thức lên đỉnh điểm của nhận thức để chuyển hóa tâm thức và giác ngộ được Thật Tính của các pháp.

Về phương pháp giải thoát, do vì quá chú trọng đến sự thể nhập của tiểu ngã vào đại ngã làm đối tượng, nên các phương pháp của Hindu giáo thường sử dụng các lễ nghi, nghiên cứu kinh Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, và thực hành Yoga, với mục đích hạn chế Ý Thức để đạt được giải thoát.

Trong khi đó, Phật giáo lại cho rằng: Người thực tập muốn đạt được Giải Thoát phải là người có khả năng nhận ra được các pháp như “Nó Đang Thật Là”. Điều này, đã được đức Phật dậy như sau: Ai thấy được lý Duyên Khởi thì người ấy thấy được Pháp. Ai thấy được Pháp thì người ấy thấy Phật.

Bởi vậy, trong Phật giáo, các pháp môn, dù là lễ bái, niệm Phật, hay tọa thiền, v.v., tất cả đều lấy việc, nâng cao sự nhận thức của tâm thức lên đến tột đỉnh của sự giác ngộ. Nói khác hơn, tất cả chỉ để hoàn thiện tính năng tự hoạt của tâm, mà một trong các đại diện của cái tâm đó là Ý thức.

Đó chính là những nét căn bản về Con Đường Giải Thoát của Ấn Độ giáo và Phật giáo.

Dĩ nhiên, ngoài Ân Độ giáo và Phật giáo, thì các tôn giáo khác cũng có những quan điểm về Nghiệp, Luân Hồi, và con đường giải thoát để truyền giảng giáo pháp của mình.

Nếu chúng ta đều đi tìm hiểu từng tôn giáo một thì sẽ tốn rất nhiều thời gian, và cũng khiến đề tài sẽ trở nên rộng hơn, dễ khiến cho chúng ta choáng ngợp.

Chính vì vậy, chúng ta chỉ nên chú trọng đến Ấn Độ giáo và Phật giáo, vì cả hai tôn giáo này có những sự liên hệ đặc biệt như sau:

  • Vì giáo lý của đạo Phật có sau giáo lý của Ấn Độ giáo, nên trong hàng đệ tử của đức Phật, cũng có khá nhiều các bậc tôn giả, đã từng thực hành, hay ít nhiều đã thấm nhuần những tư tưởng của kinh Áo Nghĩa Thư hay Vệ Đà; mà ngay cả đức Phật, khi còn là thái tử, cũng đã thực tập qua những bộ kinh này.

Vì vậy, khi giảng dậy cho những vị tôn giả, đức Phật đã dùng khá nhiều những tư tưởng của kinh Vệ Đà hay Áo Nghĩa Thư để giúp cho những tôn giả, đã có những kinh nghiệm về các kinh này, có thể dễ lĩnh hội được những quan điểm khác biệt giữa hai tôn giáo.

  • Trong thời đức Phật còn tại thế thì Ấn Độ giáo đang sinh hoạt rất mạnh tại Ấn Độ.Trong kinh điển của đạo Phật, cũng đã nhắc đến những bậc thức giả Bà La Môn đã từng ghé qua những tu viện nơi đức Phật cư trú để chất vấn và tranh luận.

Cho nên, trong những nét căn bản giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo đã có rất nhiều tư tưởng về giáo lý gần như giống nhau, nhưng mục đích thì lại hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy, chúng ta sẽ chỉ nên tập trung quan sát và nhìn sâu vào hai tôn giáo này mà thôi. Chứ không phải, giáo lý hay tư tưởng của hai tôn giáo này vĩ đại hơn, thâm sâu hơn, vi diệu hơn, hay chánh đạo hơn các tôn giáo khác.

Này hai bạn trẻ, khi chúng ta quan sát và nhìn sâu vào sự Trải Nghiệm và Dụng Nghiệm của đức Phật, Ai trong chúng ta cũng đều công nhận rằng, đức Phật là bậc Giác giả, là người đã tiếp xúc được với Sự Thật, một người có khả năng nhận ra, biết ra, được Bản Chất Như Thật của các Pháp.

Cho nên, nếu như Ngài được sinh ra ở thế giới hôm nay, chắc chắn, Ngài sẽ diễn giải về Nghiệp, Luân Hồi và Nhân Quả không dựa trên tư tưởng của Ấn Độ giáo, mà Ngài sẽ sử dụng ngôn ngữ mới, ngôn ngữ của hiện đại sẽ dễ hiểu hơn rất nhiều.

Thật bất hạnh thay, chúng ta không có nhân duyên đó. Cho nên, chúng ta phải dùng sự quan sát và nhìn sâu của chúng ta để tiếp cận với sự thật, tiếp cận với các pháp “Chân Thật Như Đang Là”.

Muốn làm được việc đó, đầu tiên, chúng ta cần, đó là: quan sát sự hình thành của thuyết Nghiệp, Luân Hồi và Nhân Quả.

Rõ ràng, thuyết về Nghiệp và Luân hồi được hình thành, theo Ấn Độ giáo (ngày nay), hay Vệ Đà giáo (ngày xưa), nhằm mục đích giúp các vị Bà La Môn có thể giải thích được lý do tại sao có sự phân biệt gia cấp trong xã hội.

Theo những tài liệu của các nhà nghiên cứu về Ấn Độ giáo, ngày nay, hay Vệ Đà giáo, Bà La Môn giáo, ngày xưa, thì Bà La Môn giáo, hay Vệ Đà giáo, phát triển đến thế kỷ thứ nhất sau tây lịch thì cải biến thành Ấn Độ giáo. Tôn giáo này, quy định thứ tự của các đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ như sau:

Đứng đầu là các vị Bà La Môn (Brahman), bao gồm: những giáo sĩ, tu sĩ, triết gia, học giả, và các vị lãnh đạo tôn giáo, tức là những người nắm giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, và cúng bái.

Vệ Đà giáo, hay Ấn Độ giáo, quy định, các vị Bà La Môn là đẳng cấp cao thượng nhất, được sinh ra từ miệng của Phạm Thiên. Họ có toàn quyền thay Phạm Thiên cầm cương lãnh đạo tinh thần dân tộc. Cho nên, họ có quyền ưu tiên được tôn kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng nhất. Dân chúng Ấn Độ nhất định phải tuân theo và tôn trọng đẳng cấp này. Nếu không, họ sẽ bị trừng phạt từ Phạm Thiên.

Vị Trí thứ hai, thuộc về Sát Đế Lỵ, hay Sát Đế Lợi (Kshastriya) là hàng vua chúa quý phái. Ấn Độ giáo quy định, những Sát Đế Lợi này, sinh ra từ cánh tay của Phạm Thiên và họ có thể thay mặt cho Phạm Thiên nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng.

Vị Trí thứ ba, thuộc về Vệ Xá (Vaisya) là những người bình dân, thương gia, nông dân. Ấn Độ Giáo quy định, họ sinh ra từ bắp vế của Phạm Thiên, có nhiệm vụ đảm đương về kinh tế trong nước như: kinh doanh, mua bán, trồng trọt, thu hoa lợi cho quốc gia.

Vị Trí thứ tư, thuộc về Thủ Đà La (Sudra) là hàng tiện dân. Ấn Độ giáo quy định, họ sinh ra từ gót chân của Phạm Thiên, nên phải thủ phận và phải phục vụ các giai cấp trên.

Vị trí thứ năm, thuộc về Chiên Đà La (Pariah, Dalit) là giai cấp người cùng khổ, nô lệ. Ấn Độ giáo quy định, họ là đẳng cấp hạ tiện nhất. Họ phải làm các nghề hạ tiện nhất như: gánh phân, dọn nhà vệ sinh, giết mổ gia súc, v.v, và bị coi như sống ngoài lề xã hội, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, bị coi là thứ ty tiện, vô cùng khổ nhục, tối tăm, không được chạm tay hay chân vào những người thuộc các đẳng cấp khác. Thậm chí, họ còn không được giẫm lên cái bóng của những người thuộc đẳng cấp cao như: Bà La Môn, Sát Đế Lỵ, v.v.

Không dừng lại ở đó, cũng theo những giáo điều này, Ấn Độ giáo, cũng quy định rất nghiêm khắc về cách “cha truyền con nối”, như:

Tổ tiên thuộc đẳng cấp nào thì con cháu cũng thuộc đẳng cấp đó. Cho dù, một người ở đẳng cấp thấp hơn, có giỏi giang, cố gắng đến đâu thì cũng không thể được xếp lên đẳng cấp cao hơn.

Thí dụ: một người Thủ Đà La cho dù có tài năng xuất chúng, có chiến đấu dũng cảm, lập  được nhiều chiến công đến đâu thì cũng mãi chỉ là lính, không bao giờ được bổ nhiệm làm tướng, vì chức vị đó chỉ dành cho những người thuộc đẳng cấp Sát Đế Lỵ.

Hay, người thuộc các đẳng cấp chênh lệch xa thì không được kết hôn với nhau. Thí dụ: một người thuộc đẳng cấp Bà La Môn, Sát Đế Lỵ thì chỉ có thể kết hôn với một người cũng thuộc đẳng cấp Bà La Môn, hoặc Sát Đế Lỵ, cùng lắm cũng chỉ kết hôn với một người Vệ Xá giầu có, chứ tuyệt đối không được kết hôn với Thủ Đà La.

Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, Bà La Môn là cấp cao nhất trong hệ thống xã hội phân chia tầng lớp ở Ấn Độ.

Như vậy, qua các tài liệu ghi chép, chúng ta có thể thấy, giới cầm quyền Bà La Môn đã đưa ra thuyết Nghiệp và Luân hồi cũng như Nhân Quả có hai mục đích rõ rệt:

  • Mượn Thần Linh và lợi dụng sự hiểu biết nông cạn của người dân, về vấn đề sợ chết, chết đi về đâu, hay tại sao họ nghèo khó, hay tại sao họ phải phục tùng, v.v. để đặt ra những tư tưởng nhằm giải thích những hiện tượng, tình trạng hay hoàn cảnh của con người, và chỉ dựa trên sự phỏng đoán mà không hề đúng sự thật.
  • Dùng những tư tưởng Nghiệp, Luân Hồi, Nhân Quả để bảo vệ quyền hành và quyền lợi của chính họ. Cũng như, đặt ra những sự trừng phạt, đọa đầy qua thần linh đối với những ai có những tư tưởng chống đối lại những sự bất công do họ tạo nên.

Chính vì những mục đích này, cho nên, chúng ta cũng không lấy làm lạ, khi kinh điển của Áo Nghĩa Thư đã định nghĩa Nghiệp, là tổng số các hành động của một người, và là lực, sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người đó qua vòng xoay, luân chuyển (Luân Hồi) của việc chết, và tái sinh.

Nếu chúng ta chịu khó quan sát và nhìn sâu vào trong định nghĩa này, chúng ta thấy, có nhiều điều thiếu chính xác, khi Kinh Áo Nghĩa Thư cho rằng: Nghiệp là tổng các hành động và là lực, thúc đẩy sự đầu thai, hay tái sinh của người nào đó trong lục đạo luân hồi.

Qua trải nghiệm, cũng như qua thực nghiệm, ai trong chúng ta cũng có thể biết rất rõ ràng. Nếu chúng ta muốn hành động một việc gì đó thì chúng ta phải có sự tư duy, hay có cảm xúc/giác trước đó.

Hay cho dù, chúng ta có hành động theo thói quen, thì trước khi muốn biến thành thói quen, được lập đi lập lại nhiều lần, thì mỗi lần chưa trở thành thói quen, chúng ta cũng phải có suy nghĩ, hay có cảm xúc/giác về việc làm đó trước khi có hành động. Chứ không thể nào, không có sự tư duy hay cảm xúc/giác mà chúng ta có thể hành động được.

Thí dụ, chúng ta bị muỗi chích và bị ngứa. Nếu như mới lần đầu thì vùng bị muỗi chích do Thân Thể Thức gởi về cho Tiềm Thức, và đưa vào kho Ngã Thức. Ngã Thức khi tiếp xúc với vùng bị muỗi chích mới khích hoạt cảm giác Ngứa. Vì cảm giác ngứa gây ra khó chịu nên Ngã Thức liền sử dụng Ý Thức để tìm phương pháp làm dịu cảm giác ngứa.

Ý Thức khi nhận lệnh từ Ngã Thức thì mới dùng khả năng phân tích để tìm ra phương pháp giải quyết. Sau khi Ý Thức phân tích, so sánh, và tìm ra phương pháp xong thì gởi về kho dữ liệu của Tiềm Thức.

Vì cảm giác Ngứa đang có mặt trong Ngã Thức, nên Tiềm Thức sẽ sắp xếp những phương pháp từ phân tích của Ý Thức vào kho của Ngã Thức. Ngã Thức khi tiếp nhận các phương pháp từ Ý Thức, mới tác động lên Thân Thể Thức. Thân Thể Thức khi nhận lệnh từ Ngã Thức mới điều khiển đôi tay đưa vào chỗ ngứa để gãi.

Nếu như chỗ bị ngứa, lại rơi vào chỗ mà đôi tay không thể chạm đến để gãi, thì Thân Thể Thức sẽ gởi vấn đề: “tay không thể chạm đến chỗ gãi” về kho của Ngã Thức trong Tiềm Thức.

Ngã Thức lại sử dụng Ý Thức đi phân tích vấn đề “tay không chạm được chỗ gãi” để tìm ra những phương pháp khác, thí dụ như: dựa chỗ ngứa vào tường để gãi, hay dùng một que gãi có cán dài để gãi v.v. và gởi những phương pháp này về lại cho Tiềm Thức.

Tiềm Thức lại sắp xếp vào kho Ngã Thức, và Ngã Thức lại ra lệnh cho Thân Thể Thức, ứng dụng những phương pháp từ Ý Thức để giải quyết cảm giác Ngứa. Khi Thân Thể Thức đã chạm vào chỗ Ngứa, và giải quyết được cảm giác đó, và khi cảm giác Ngứa không còn có mặt trong Ngã Thức thì Thân Thức sẽ đem những phương pháp giải quyết đó, gởi về Tiềm Thức lưu giữ.

Tiềm Thức sắp xếp những phương pháp giải quyết đó vào trong kho của Ngã Thức, và chúng ta quen gọi những phương pháp được tích lũy hay lưu giữ trong kho Ngã Thức này là những kinh nghiệm sống của một cá thể.

Trong trường hợp chúng ta liên tục bị muỗi chích, và bị ngứa. Những kinh nghiệm tích lũy trong Ngã Thức được sử dụng nhiều lần, thành thói quen, thì lúc đó, chúng ta chẳng cần phải suy nghĩ phải làm gì, mà tự động, lúc đó, chúng ta tùy theo chỗ ngứa ở vị trí nào mà giải quyết một cách rốt ráo dựa trên những phương pháp đã có sẵn.

Nếu như, lại rơi vào trường hợp, chưa có những phương pháp có trước, hay tích lũy trong kho Ngã Thức không có, thì lập trình  trên lại được lập lại theo đúng sự vận hành của các Thức.

Như vậy, nếu quan sát sâu hơn về sự vận hành của các Thức, chúng ta thấy, nếu cảm giác ngứa không có mặt nơi Ngã Thức, cũng như, Ngã Thức, nếu không muốn giải quyết cảm giác ngứa, vì còn đang bận giải quyết những vấn đề khác quan trọng hơn, thì chúng ta không thể có hành động gãi theo sau.

Trạng thái này, chúng ta gọi là sự vô cảm của Ngã Thức với cảm giác ngứa. Nghĩa là, không có nguồn năng lượng nào sinh khởi từ Ngã Thức để đi giải quyết vấn đề của Ngứa, cho nên, không có hành động gãi, tiếp theo.

Thế nên, qua sự quan sát và nhìn sâu vào sự vận hành của các Thức, chúng ta thấy, định nghĩa của Nghiệp theo Áo Nghĩa Thư, là tổng số hành động, và là lực điều khiển đến sự tái sinh hay luân hồi theo lục đạo thì hoàn toàn không hợp lý, và không đúng với sự thật, cũng như không đúng với sự vận hành của các Thức.

Nếu nói chính xác hơn, thì sự tư duy hay cảm xúc/giác mới chính là nguồn lực để tạo ra sự tái sinh theo luân hồi, chứ không thể nào là Nghiệp được.

Và điều này, chúng ta lại thấy rất rõ, trong phần con đường giải thoát, Áo Nghĩa Thư cho rằng: Ý Thức mới chính là nguyên nhân tạo ra sự ràng buộc mê đắm và tạo ra sự tái sinh trong sinh tử luân hồi.

Dĩ nhiên, ở đây, chúng ta chỉ đang quan sát đến góc độ định nghĩa về Nghiệp là lực, là tổng số các hành động mà thôi, chứ chúng ta chưa quan sát đến có tái sinh, và có luân hồi hay không? Vấn đề này, chúng ta sẽ tiếp tục quan sát khi thực nghiệm về tái sinh luân hồi và nhân quả.

Như vậy, qua sự quan sát về sự hình thành gia cấp của các vị Bà La Môn trong Bà La Môn giáo, hay Vệ Đà giáo, chúng ta có thể hiểu rõ hơn lý do tại sao lại có thuyết về Nghiệp, Luân Hồi, và Nhân Quả được hình thành, và diễn giải có lợi ích lớn hơn, cho các vị chức sắc Bà La Môn.

Vấn đề này, chúng ta cũng lại thấy trong một số kinh điển của giáo lý của đạo Phật đã được đề cập đến như bạn Diệu Hiền đã trình bầy:

“Nghiệp là hành động chịu ảnh hưởng của luật Nhân Quả, vì mỗi một hành động làm ra, được gọi là nguyên nhân, đều có một hậu quả tương ứng; và hậu quả sẽ trở thành nguyên nhân cho một hậu quả kế tiếp.

Hay không phải hành động nào cũng tạo ra Nghiệp. Nghiệp chỉ được tạo ra, khi có một sự tác ý. Và khi đã tạo ra Nghiệp, thì Nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sự tái sanh trong vòng sinh tử luân hồi.”

Nếu chúng ta lại quan sát và nhìn sâu vào sự vận hành của các Thức, thì chúng ta cũng thấy, định nghĩa của đạo Phật cũng có những vấn đề tương tự như Ấn độ giáo. Có nghĩa là, những định nghĩa này chỉ dựa trên sự suy luận, và phỏng đoán mà không hề có sự tiếp xúc với sự thật.

Trước tiên, chúng ta hãy quan sát định nghĩa về Nghiệp theo đạo Phật, là hành động chịu ảnh hưởng của luật Nhân Quả, vì mỗi một hành động làm ra, được gọi là nguyên nhân, đều có một hậu quả tương ứng; và hậu quả sẽ trở thành nguyên nhân cho một hậu quả kế tiếp.

Định nghĩa như thế này có chuẩn không?

Chắc chắn là không chuẩn, Vì sao? Vì qua sự quan sát vận hành của các Thức thì hành động luôn đến sau sự tư duy hay cảm xúc/giác có trước trong Ngã Thức. Cho nên, hành động phải thuộc về Quả, chứ không phải là Nhân; và cái Nhân thật sự phải là sự tư duy hay cảm xúc/giác, chứ không phải là hành động.

Theo luật Nhân Quả, cái gì có trước và qua tác động sinh ra cái có sau, thì cái có trước, được gọi là Nhân hay Nguyên Nhân, và cái có sau gọi là Quả, Kết Quả hay Hậu Quả.

Theo định nghĩa, trong câu đầu: “hành động chịu ảnh hưởng của luật Nhân Quả” điều này chính xác, vì hành động có hay không, còn tùy thuộc vào sự quyết định hay trạng thái của Ngã Thức lúc đó đang là gì. Cho nên, có hai trường hợp sẽ xẩy ra theo vận hành của các Thức: một, có xẩy ra hành động, và hai, không có xẩy ra hành động.

Chính vì, hành động chịu sự tác động trực tiếp từ cái Nhân trong Ngã Thức, hay nói, Quả-hành động chịu ảnh hưởng từ luật Nhân Quả, là điều vô cùng hợp lý và đúng với sự thật về sự vận hành của các Thức.

Chắc chắn, định nghĩa này, phải phát xuất từ một bậc Giác giả, một người đã tiếp xúc với sự thật, mới có thể diễn giải như vậy.

Nhưng nếu quan sát tiếp câu thứ hai, chúng ta lại thấy, định nghĩa của đạo Phật lại gần giống với định nghĩa của Áo Nghĩa Thư, chỉ khác trong cách sử dụng những từ ngữ, nhưng nội dung lại hoàn toàn dựa vào sự phỏng đoán khi cho rằng:

“Vì mỗi một hành động làm ra, được gọi là nguyên nhân, đều có một hậu quả tương ứng; và hậu quả sẽ trở thành nguyên nhân cho một hậu quả kế tiếp.”

Như chúng ta đã từng quan sát về các chức năng của Ngã Thức, chúng ta đều biết rằng, trong Ngã Thức có chức năng về Đạo Đức. Và trong phần Đạo Đức lại được chia làm ba phần riêng biệt, gồm cặp đối lập: Thiện-Ác, và phần thứ ba thuộc về Trung Tính, không Thiện, không Ác.

Thí dụ như, nhà thơ Xuân Diệu, khi diễn tả về nỗi buồn của mình ông đã viết:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn, không hiểu, vì sao tôi buồn.

Qua hai câu thơ này, nếu chúng ta quan sát theo sự vận hành của các Thức, chúng ta thấy, ông Xuân Diệu, khi nhìn lên trời, thấy mây bay trên cao, và nẩy sinh một cảm giác buồn.

Vì cảm giác buồn của ông thuộc về Trung Tính, không thiện, không ác, nên ông chẳng có bất cứ một hành động Ác hay Thiện nào kế tiếp để giải quyết nỗi buồn của ông.

Ngã Thức của ông, cũng không muốn giải quyết nỗi buồn của ông qua việc ra lệnh cho Ý Thức đi tìm hiểu xem nguyên nhân tại sao ông có nỗi buồn, và ông cũng chẳng muốn Ý Thức của ông tìm ra phương pháp để giải quyết nỗi buồn.

Vì vậy, ông đã sử dụng hai từ “không hiểu”, để diễn tả về Ngã Thức của ông đang hoạt động như thế nào. Nghĩa là, ông đã cho biết, ông không sử dụng khả năng phân tích của Ý Thức để đi tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân gây ra nỗi buồn của ông, hay tìm ra phương pháp giải quyết nỗi buồn của ông.

Mà ở đây, ông chỉ sử dụng Ý Thức để nhận diện ra nguồn năng lượng đang có trong ông, đó là nỗi buồn. Mà nỗi buồn đã qua sự phân tích của Ý Thức được xác định, đó không phải là những nguồn năng lượng khác như: chán, nản, khó chịu, v.v., nên ông khẳng định, đó là ông đang buồn, chứ không phải ông đang chán, hay ông đang khó chịu.

Nếu chúng ta quan sát và nhìn sâu, trên góc độ của Nhân Quả thì sẽ có bốn trường hợp xẩy ra.

Trường hợp thứ nhất, thuộc về cách ứng dụng trong việc ứng xử của cá nhân ông Xuân Diệu với những người chung quanh. Nếu như ông Xuân Diệu có nỗi buồn, và muốn giải quyết nỗi buồn của ông bằng cách đi gây chuyện, cãi vã, bạo hành với người khác để giải tỏa nỗi buồn, thì nỗi buồn của ông là nguyên nhân, gây ra hậu quả là hành động: gây chuyện, cãi vã, hay bạo hành với người khác. Và hành động này của ông sẽ kéo theo những hậu quả khác như: bị thương tích, phải bồi thường, hay bị giam cầm v.v.

Trường hợp này, xẩy ra đúng với một phần của định nghĩa trên, có nghĩa là, hành động của ông Xuân Diệu đã là nguyên nhân kế tiếp gây ra Hậu Qủa, không phải chỉ có Một Hậu Quả không, mà có khi lại tạo ra nhiều Hậu Quả như: bị bắt giam, bị thương tích, bị bồi thường v.v.

Và nếu chúng ta quan sát và nhìn sâu hơn, chúng ta thấy, cái Quả của hành động để tạo ra các Nhân mới, không phải là cái Nhân chính. Cái Nhân chính là nỗi buồn của ông. Nếu ông không có nỗi buồn, và lại không lựa chọn những hành động mang tính bạo động thì ông không tạo ra các nhân mới được.

Trường hợp thứ hai, như hai câu thơ của ông, ông chỉ cảm nhận được ông đang buồn, ông không tìm cách giải quyết nỗi buồn của ông qua người khác. Ông không dùng Ý Thức của ông để tìm hiểu tại sao ông buồn. Ông chỉ nhận biết trong ông đang có nỗi buồn, và ông không có bất cứ một hành động nào, đối với chính thân thể ông, hay với bất cứ ai khác.

Cho nên, tuy ông đang có Nhân là nỗi buồn, nhưng ông lại không tạo ra bất cứ một Quả hành động nào cả. Như vậy, trong trường hợp này thì chỉ có Nhân nhưng lại không có Quả.

Vậy thì trong trường hợp thứ hai này, định nghĩa trên hoàn toàn không hợp lý, và thiếu độ chính xác.

Trường hợp thứ ba, khi ông cảm nhận được nỗi buồn trong ông, thay vì kết hợp với những nguồn năng lượng tiêu cực như đi gây hấn, bạo hành, thì ông lại kết hợp nguồn năng lượng nỗi buồn vu vơ, thuộc về Trung Tính của ông, với những nguồn năng lượng tích cực, như: hối lỗi (vì chưa làm tròn những trách nhiệm với đất nước), hay cảm thông (những nỗi buồn của người khác, nên không sáng tác những vần thơ buồn, để tưới tẩm những hạt giống đó), và có những hành động tích cực như: siêng năng làm việc hơn khi buồn, sống có ý thức hơn; thì những hành động này, lại không gây ra Hậu Quả, mà lại là Kết Quả.

Như trường hợp thứ ba này thì định nghĩa trên lại hoàn toàn trái ngược với những gì xẩy ra trong thực tế.

Trường hợp thứ tư, đó là trường hợp chỉ liên quan đến chính cá nhân của ông Xuân Diệu, đó là trường hợp nỗi buồn của ông lại là Quả, chứ không phải là Nhân.

Có nghĩa là, nỗi buồn mà ông có, đến từ một khởi niệm nào trong Ngã Thức của ông khi qua sự tiếp xúc của ngũ quan, ngũ thức hay Ý Thức. Qua sự tiếp xúc này, mới sinh ra nỗi buồn. Ở đây, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định, cái Qủa nỗi buồn của ông, đến qua sự tiếp xúc của mắt với trời cao, mây trắng, và qua Nhãn Thức, nhận diện được hình sắc, mới tạo ra nỗi buồn.

Nếu ông Xuân Diệu là một người Thể Nghiệm, muốn đi tìm sự thật thì ông sẽ sử dụng Ý Thức của ông để tìm ra nguyên nhân thật sự gây ra nỗi buồn.

Nhân nói về Ý Thức, chúng ta có thể quan sát về sự khác biệt giữa định nghĩa giữa Trí và Tuệ, mà phần lớn chúng ta đã có những lầm lẫn giữa hai định nghĩa này.

Định nghĩa của Trí là: sự quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, nhân dạng, và phỏng đoán, theo chiều nông, và định nghĩa của Tuệ là: sự quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, nhận dạng, nhưng không có sự phỏng đoán, và theo chiều sâu.

Như vậy, định nghĩa giữa Trí và Tuệ gần giống nhau về khả năng: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, nhân dạng, nhưng khác nhau, là Trí có thêm sự phỏng đoán và phát triển theo chiều nông. Còn Tuệ, thì không có sự phỏng đoán và phát triển theo chiều sâu.

Để kiểm chứng định nghĩa này, chúng ta có thể dùng phương pháp của Tứ Diệu Đế hay Bốn Bước làm minh họa:

Thí dụ, Nếu ông Xuân Diệu muốn đi tìm nguyên nhân gây ra nỗi buồn của ông, thì ông có thể sử dụng Tập Đế hay Bước Thứ Hai như sau:

Tại sao tôi buồn?

Tôi buồn vì mắt tôi tiếp xúc với những đám mây bay trên bầu trời.

Tại sao những đám mây bay trên trời lại khiến tôi buồn?

Vì tôi cảm thấy những đám mây kia, tụ tán vô thường, không biết lúc nào còn, lúc nào mất.

Tại sao tụ tán vô thường lại khiến tôi buồn?

Vì tôi nghĩ đến đời sống của tôi, cũng vô thường như đám mây, rồi có một ngày nào đó tôi sẽ chết. Và tôi rất sợ cảm giác chết.

Tại sao lại sợ chết?

Tại vì, tôi không biết, khi tôi chết sẽ đi về đâu.

Dĩ nhiên, nếu ông Xuân Diệu tiếp tục hỏi tại sao, ông sẽ biết được gốc rễ thật sự, hay cái Nhân đã gây ra nỗi buồn của ông.

Khi đã tìm được cái nhân, hay gốc rễ thật sự gây ra nỗi buồn, ông sẽ ứng dụng Đạo Đế, hay Bước Thứ Ba, để đi giải quyết vấn đề đó. Và khi giải quyết được vấn đề đó, bằng cách chấm Dứt từ Cái Nhân thì cái Quả là nỗi buồn của ông được giải quyết một cách triệt để.

Qua thí dụ trên, chúng ta thấy, ai trong chúng ta cũng có khả năng sử dụng Trí và Tuệ. Nhưng tiếc thay, chúng ta hay sử dụng những nguồn năng lượng tiêu cực như: lười biếng, do dự, chán nản v.v. cho nên, chúng ta thường làm việc qua loa, vì vậy, chúng ta thường sử dụng Trí nhiều hơn dùng Tuệ.

Thông thường, chúng ta cũng như nhà thơ Xuân Diệu, sẽ chỉ dừng lại ở câu trả lời số một, và phỏng đoán, cho rằng, đó chính là cái Nhân tạo ra nỗi buồn của chúng ta. Nhưng khi dùng Tuệ, chúng ta không dừng lại ở câu trả lời số một, mà chúng ta lại tiếp tục nhìn sâu hơn. Cho nên, chúng ta có khả năng để tiếp xúc với sự thật mà không cần đến sự phỏng đoán.

Nếu như, nhà thơ Xuân Diệu, hay chúng ta, dừng lại ở câu số bốn thì chúng ta thấy, nguyên nhân gây ra nỗi buồn của Xuân Diệu bắt nguồn từ cái Nhân “sợ chết không biết về đâu”, chứ không phải từ trời xanh mây trắng.

Giả sử như, đó chính là gốc rễ, thì khi áp dụng Đạo Đế, hay Bước Thứ Ba, chúng ta sẽ có những cách giải quyết hoàn toàn khác nhau, cũng như, sẽ tạo ra Hậu Quả hay Kết Quả khác nhau.

Thí dụ, qua Bước Thứ Ba, tìm những phương pháp giải quyết vấn đề từ cái Nhân. Nếu chúng ta dùng Trí, và dừng lại ở câu hỏi số một, thì chúng ta sẽ gặp vô số các vấn đề kế tiếp khi hỏi:

Làm sao giải quyết nỗi buồn, đem đến từ trời xanh mây trắng?

Chúng ta sẽ rơi vào trạng thái bế tắc, vì chúng ta không thể làm sao thay đổi được cái Nhân trời xanh mây trắng kia. Và nếu như, Ngã Thức của chúng ta đã Tin Trời Xanh mây trắng kia chính là cái Nhân, và lại không thể chuyển hóa, hay thay đổi cái Nhân, vì nằm ngoài tầm tay của chúng ta, thì chúng ta tạo ra một hậu quả là không thể giải quyết vấn đề này, và hậu quả này sẽ khích hoạt tạo ra một Nhân mới, đó là cảm giác thất vọng.

Cảm giác thất vọng mới được tạo ra sẽ kết hợp với nỗi buồn của chúng ta có sẵn, thành một nguồn năng lượng “không tên” mạnh mẽ hơn, và  nếu nguồn năng lượng này, liên tục xẩy ra, sẽ khích hoạt nguồn năng lượng tự ty, thấy mình nhỏ bé, v.v.

Và nếu chúng ta lại không thể giải quyết thì những nguồn năng lượng này lại tiếp tục kết hợp với những nguồn năng lượng khác, và trở nên mạnh mẽ hơn; cuối cùng, khống chế Ngã Thức của chúng ta và sẽ tạo ra những hậu quả liên tục.

Đây, cũng chính là những lý luận của Ấn Độ giáo, khi cho rằng Ý Thức là mầm mống hay là Nguyên Nhân gây ra sự mê đắm của con người. Hay đúng hơn, chúng ta sử dụng Trí nên tạo ra nhiều Hậu Quả.

Nếu chúng ta quan sát và nhìn sâu, chúng ta thấy, sự khởi đầu của nhà thơ Xuân Diệu có thể chỉ là một nỗi buồn vu vơ qua sự tiếp xúc với trời xanh, mây trắng. Nhưng qua việc sử dụng Trí, để giải quyết nỗi buồn, qua sự thiếu nhìn sâu và dùng phỏng đoán, chúng ta có thể tạo ra vô số những nguồn năng lượng “không tên”, và chính những nguồn năng lượng không tên này là nguyên nhân gây ra các hậu quả kế tiếp.

Còn nếu như chúng ta sử dụng Tuệ thì câu hỏi sẽ như sau:

Làm sao có thể giải quyết nỗi buồn khi sợ chết và chết đi về đâu?

Sợ chết là vấn đề thuộc về phạm trù của Ngã Thức, về quan điểm, nhận thức của Ngã Thức, cũng như niềm tin của Ngã Thức vào những kinh nghiệm đã tích lũy.

Vì thuộc về Ngã Thức, cho nên, vấn đề “sợ chết” nằm trong tầm tay của chúng ta, có thể thay đổi được. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách kiểm tra lại niềm tin của chúng ta có đúng không? Chúng ta có thể kiểm tra lại những nhận thức của chúng ta có đúng không?

Chúng ta cũng có thể học hỏi những kinh nghiệm của những người đã sợ chết, và họ đã dùng những nhận thức nào, hay niềm tin của họ sẽ tin thế nào, để thay thế cho những nhận thức, hay niềm tin lệch lạc của chúng ta trong quá khứ. Hay chúng ta có thể quan sát những hiện tượng, tình trạng đang xẩy ra, để nhận thấy, sự lệch lạc, và chỉnh sửa lại cho đúng, v.v.

Khi những nhận thức và niền tin lệch lạc đã được chỉnh sửa lại cho đúng (Nhân), và có thể giải quyết được nỗi buồn của chúng ta, thì chúng ta đã chấm dứt được cái Quả nỗi buồn của chúng ta mà không còn tạo ra thêm những Hậu Quả, thì chúng ta gọi cái Quả đó là Kết Quả. Quả không còn tạo ra nhân mới, để sinh ra các Hậu Quả khác.

Quá trình này, được gọi là Giải Thoát hay Kiến Ngộ, qua việc quan sát và nhìn sâu, tiếp xúc với gốc rễ, nguyên nhân chính, hay sự thật, mà không hề có sự phỏng đoán.

Đây, chính là lý do, tại sao đức Phật lại khuyến khích các đệ tử của ngài phát triển Ý thức đến độ cao nhất.

Nếu nói chính xác hơn, không phải phát triển Ý Thức đến độ cao nhất, mà là sử dụng sự quan sát và nhìn sâu của Tuệ Giác để giải thoát khỏi những định kiến, nhận thức sai lầm đã tích lũy trong Ngã Thức.

Như vậy, qua bốn trường hợp nêu trên, trong đó có ba trường hợp, mà nỗi buồn được coi là Nhân, và mỗi trường hợp, lại đưa ra những Hậu Quả, hay Kết Quả khác nhau. Không giống như định nghĩa của đạo Phật khi cho rằng:

“vì mỗi một hành động làm ra, được gọi là nguyên nhân, đều có MỘT hậu quả tương ứng; và hậu quả sẽ trở thành nguyên nhân cho MỘT hậu quả kế tiếp.”

Điều này chỉ đúng với duy nhất một trường hợp, khi Qủa Hành Động đó, được kết hợp với những nguồn năng lượng tiêu cực.

Còn với hai trường hợp khác thì lại hoàn toàn thiếu chính xác, và không hợp lý, đặc biệt với trường hợp thứ tư, thì nỗi buồn không phải là Nhân, mà là Quả.

Như vậy, qua sự quan sát, nhìn sâu và kiểm nghiệm trên thực tế, chúng ta có thể nhận thấy, phần định nghĩa thêm vào sau về Nghiệp, không thể nào phát xuất từ một bậc Giác Ngộ như Đức Phật, một người đã chỉ dậy phương pháp Tứ Diệu Đế để đi tìm ra sự thật, lại có một định nghĩa thiếu sự chính xác cũng như không hợp lý như vậy.

Nếu chúng ta có dịp quan sát về sự phát triển của đạo Phật, chúng ta có thể hiểu, phần thêm vào này có thể phát xuất từ những vị đệ tử của đức Phật, trong qúa trình đi tìm sự thật, các vị đã sử dụng Trí, để đưa ra những sự phỏng đoán, mà lại không dựa vào Tuệ, dựa vào sự nhìn sâu và áp dụng phương pháp Tứ Diệu Đế để tìm ra sự thật.

Chính vì vậy, nên phần định nghĩa thêm vào sau, thiếu đi sự chính xác, không hợp lý, và không đúng với sự vận hành của các Thức.

Nếu đức Phật còn tại thế, Ngài sẽ định nghĩa lại Nghiệp theo ngôn ngữ mới, sẽ dễ hiểu hơn.

Nghiệp là hành động hay việc làm, phát xuất từ sự khởi niệm, suy nghĩ, hay cảm xúc/giác từ Ngã Thức. Nghiệp, có thể tạo ra Hậu Quả hay Kết Quả, tùy theo cái Nhân trong Ngã thức, đang kết hợp với nguồn năng lượng nào: tiêu cực hay tích cực.

Nếu cái nhân ban đầu kết hợp với những nguồn năng lượng tiêu cực thì Nghiệp sẽ tạo ra Hậu Quả. Khi là Hậu Quả thì sẽ tạo ra những Nhân mới và sẽ sinh ra những Hậu Quả, hay Kết Quả mới, tùy thuộc vào sự kết hợp các nguồn năng lượng trong Ngã Thức, và Nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi Ngã Thức khi Ngã Thức đang sử dụng Ý Thức thuộc về Trí hay Tuệ. Nếu là Trí thì sinh ra hậu Quả, nếu là Tuệ thì sinh ra Kết Quả.

Nếu cái nhân ban đầu, kết hợp với những nguồn năng lượng tích cực như Tuệ Giác thì Nghiệp sẽ tạo ra Kết Quả. Khi là Kết quả thì sẽ không tạo ra những nhân mới hay tạo ra các hậu quả khác.

Nghiệp sẽ không là phải là lực tạo ra sự tái sinh hay luân hồi mà sự tái sinh hay luân hồi của con người lệ thuộc vào nguồn năng lượng hay lực từ những nhận thức sai lầm, những tư tưởng, những ý niệm, hay cảm xúc/giác phát sinh trong Ngã Thức.

Sự tái sinh, hay luân hồi chỉ có thể xẩy ra khi Ngã Thức của cá nhân sử dụng là Trí thay vì là Tuệ. Luân hồi hay Nghiệp, sẽ chấm dứt khi cá thể đó dùng Tuệ Giác để tiếp xúc được với sự thật, qua việc quan sát và nhìn sâu mà không có sự phỏng đoán.

Khi Tuệ Giác luôn được sử dụng, từ cách tìm ra nguyên nhân, gốc rễ của vấn đề, và áp dụng trong cách tìm ra những phương pháp giải quyết vấn đề từ gốc rễ, thì cá thể đó đạt được sự giải thoát khỏi Nghiệp và Luân Hồi.

Như tôi đã nói, Nghiệp và Luân Hồi là một đề tài rất lớn, nếu chúng ta muốn nhặt những hạt sạn trong kinh điển của các tôn giáo thì rất tốn thời gian, và cũng là việc làm vô ích. Vì sao?

Vì ai trong chúng ta cũng đều có niềm tin. Chúng ta tin, nhưng chúng ta lại ít khi nào đi kiểm chứng hay trải nghiệm để chứng thực cho niềm tin đó có đúng sự thật hay không? Chúng ta cứ tin, và cứ tiếp tục bảo vệ niềm tin đó. Cho dù, niềm tin đó chỉ là sản phẩm từ sự phỏng đoán, thiếu chính xác, và không đúng với sự thật.

Niềm tin đó, không ai có thể làm lung lay hay chuyển đổi, mà chỉ có chính chúng ta mới là người có quyền thay đổi niềm tin lệch lạc đó mà thôi.

Ngày nào, Ngã Thức của chúng ta còn tin rằng, những kinh nghiệm mà chúng ta tích lũy còn làm lợi cho chúng ta thì chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ thay đổi.

Giáo Pháp của đức Phật đã truyền qua hơn 26 thế kỷ, nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta có thể học hỏi để chỉnh sửa lại những nhận thức sai lầm.

Cho nên, chúng ta sẽ dừng lại phần quan sát về Nghiệp. Hy vọng với một vài nét căn bản mới, dựa trên sự quan sát và vận hành của các Thức có thể giúp chúng ta có một hướng nhìn mới, tiếp cận với sự thật dễ dàng hơn.

Bây giờ, chúng ta hãy quan sát và nhìn sâu vào Luân Hồi, xem học thuyết này của đạo Bà La Môn, hay Vệ Đà giáo, ngày xưa, sẽ như thế nào, qua bài khảo cứu, “Bản Chất Triết Học Bà La Môn  Dưới Cái Nhìn Của Đạo Phật”, của Tỳ Kheo Thích Quảng Nguyên, trong Thư Viện Hoa Sen.

Theo khảo cứu, tư tưởng Triết học của Vệ Đà giáo, vào thời kỳ đầu, với trình độ nhận thức của con người còn thấp kém, nên tư tưởng triết học của Bà La Môn Giáo, chủ yếu dựa vào hình thức tế lễ, mang đậm tính chất đa thần. Vì sao?

Vì họ tin tưởng rằng, nhờ những nghi thức tế lễ, mà người ta có thể thông cảm với thần linh, được thần linh che chở, và giúp đỡ cho giải thoát. Tới khi trình độ nhận thức của con người càng ngày càng cao, con người bắt đầu ý thức về sự tồn tại của mình. Họ suy ngẫm về cuộc đời, số phận, và đi tìm lẽ sống cho con người.

Để đáp ứng nhu cầu đó, nên tư tưởng triết học Áo Nghĩa Thư đã ra đời. Đây là đỉnh cao của Triết học Bà La Môn giáo.

Theo Áo Nghĩa Thư, cứu cánh của mọi Triết học, tôn giáo, chính là vấn đề giải thoát. Theo chuyên luận về Áo Nghĩa Thư (Brihadaranyaka Upanishad): “Bậc chân tri sau khi chết sẽ vượt qua không gian lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng”.

Cõi hạnh phúc vĩnh hằng là cảnh giới dành cho những người đạt giải thoát thực sự. Còn những kẻ tội lỗi thì phải chịu sự chi phối bởi định luật nghiệp báo, bị đọa đày khổ sở trong vòng luân hồi cho tới khi dứt nghiệp, và đạt được chân tri.

Ngoài ra trong Chândogya của Áo Nghĩa Thư cũng nói đến hai nẻo đường giải thoát: đường của Tố Phụ, và đường của Thần Linh. Đường của Tố Phụ dành cho những người ra sức hành thiện, những người ấy sau khi chết sẽ được vào cõi trời (thiên đường). Nhưng khi hưởng hết phước báo trong một khoảng thời gian tương ứng, họ sẽ trở lại trần gian.

Chỉ khi nào con người đi vào nẽo đường của Thần Linh, không bị nô lệ bởi vật chất, đồng nhất được Phạm Thiên đại ngã với tiểu ngã ngay tại chính mình, bấy giờ mới được giải thoát, và được hưởng hạnh phúc viên mãn vĩnh hằng.

Nhưng, muốn được giải thoát thì phải trải qua tiến trình tu tập. Phải toàn tâm kiên trì tu luyện đạo đức, và tu luyện tri thức, nhằm diệt mọi dục vọng, lo âu, phiền não, rũ bỏ hết mọi ràng buộc, lôi kéo bởi thế giới vật dục biến ảo, vô thường của thế giới trần tục; dày công thiền định, suy tư chiêm nghiệm nội tâm, “thực nghiệm tâm linh” bằng trực giác; nhận cho ra chân bản tánh của mình, để đạt chân lý tối thượng hòa nhập vào bản thể tuyệt đối.

Đó chính là sự giải thoát, ý nghĩa tối cao của cuộc sống. Nhưng nhận thức được sự đồng nhất đó với linh hồn bất tử, không phải là điều cảm giác, hay trí tuệ thông thường có thể đạt được. Nó có thể đạt được nhờ vào sự thực nghiệm tâm linh.

Thực nghiệm tâm linh là sự thực nghiệm ngay trong sâu thẳm tâm hồn mình. Phải trải qua mức cảm nghiệm, nhưng trước hết là phải đưa nhận thức quay về chính mình.

Kinh Áo Nghĩa Thư cho rằng: “Tiểu ngã chẳng có thể nhận biết được bởi học vấn, bởi sức mạnh của trí óc. Tiểu ngã chẳng thể nhận thức được bằng giác quan. Tự ngã mở các giác quan ra ngoài, bởi thế, người ta chỉ trông ra thế giới bên ngoài mà không nhìn về bản ngã”. Có 3 con đường chính để đạt đến giải thoát:

  • Con đường tri thức đòi hỏi tu hành khổ hạnh, chuyên tâm rèn luyện, sẵn lòng thoát ly thế giới trần tục.
  • Con đường hành động theo nguyên tắc tâm linh vị tha, vì lợi ích chung, vì cái thiện, vì đại ngã.
  • Con đường cuối cùng, rộng rãi nhất, dành cho mọi người đó là con đường sùng tín, hết lòng tin yêu, tôn kính đấng tối cao – Tiểu Ngã có thể hoà nhập với Đại Ngã trong tình yêu và bằng tình yêu cao cả thiêng liêng.

Như vậy, theo quan điểm của Áo Nghĩa Thư thì Luân Hồi là qúa trình của “Bậc chân tri sau khi chết sẽ vượt qua không gian, lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng”.

Cõi hạnh phúc vĩnh hằng, là cảnh giới dành cho những người đạt giải thoát thực sự. Còn những kẻ tội lỗi thì phải chịu sự chi phối bởi định luật nghiệp báo, bị đọa đày khổ sở trong vòng luân hồi cho tới khi dứt nghiệp, và đạt được chân tri.

Chúng ta hãy quan sát và nhìn sâu vào lý luận này qua sự vận hành của các Thức xem có thật đúng như vậy không?

Trong câu đầu tiên, chúng ta thấy, kinh Áo Nghĩa Thư nhấn mạnh đến vấn đề sinh tử về sự diệt sinh của một bậc Chân Tri từ một kiếp này qua một kiếp khác. “Bậc chân tri, sau khi chết, sẽ vượt qua không gian, lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng.”

Đứng trên góc độ của sinh tử, về bản chất, chúng ta thấy sinh tử có hai phạm trù riêng biệt, gồm:

  • Sinh tử theo vật chất
  • Sinh tử theo tinh thần

Sinh tử theo vật chất, về bản chất “Chân Thật Như Là” của vật chất, thì hễ có hình tướng được tạo ra, hay sinh ra, thì luôn có sự chuyển hóa. Thời gian chuyển hóa của mỗi hình tướng, ngoài việc tuân theo sự vận hành của Bản chất Chân Thật Như Là thì còn chịu ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh, tình trạng, năng lượng, v.v.

Thí dụ, theo các nhà hóa học, một miếng vàng, được hợp thành từ những nguyên tố được đặc trưng bởi số lượng Proton có trong hạt nhân của mỗi nguyên tử của nó. Trong đó, Vàng là nguyên tố mà mỗi hạt nhân có chứa 79 Proton.

Proton là tên gọi cho một loại hạt tổ hợp, bao gồm, hạt hạ nguyên tử. Proton và Neutron là hai loại hạt chính cấu tạo nên hạt nhân của nguyên tử.

Có những nguyên tử chỉ có Proton, và không có Neutron, như nguyên tử Hydrogen, nhưng đa phần, các nguyên tử đều có hai hạt Proton và Neutron.

Bản thân của một hạt Proton được tạo thành từ 3 hạt Quark nhỏ hơn,  gồm: 2 Quark lên và 1 quark xuống, còn Neutron thì cũng có 3 hạt Quark nhỏ hơn, nhưng: 2 Quark xuống và 1 Quark lên.

Trong nguyên tử trung hòa về điện tích, số lượng hạt Proton có trong hạt nhân, thường bằng đúng với số lượng hạt Electron của lớp vỏ nguyên tử. Số Proton có trong nguyên tử của 1 nguyên tố, luôn bằng với số điện tích hạt nhân của nguyên tố đó.

Để tách hay cộng thêm một Proton hoặc Neutron ra khỏi hạt nhân, chúng ta cần một nguồn năng lượng cực lớn.Theo bảng phân loại tuần hoàn của hóa học, nếu chúng ta có thể cộng thêm một Proton vào nguyên tố Vàng, thì nguyên tố Vàng sẽ biến thành nguyên tố Thủy Ngân (80), và nếu lấy ra một Proton, thì Vàng lại biến thành nguyên tố Bạch Kim (78).

Như vậy, nếu đứng trên góc độ về bản chất Đang Thật Là của vật chất, chúng ta thấy, tất cả các nguyên tố, từ thể khí như Hydrogen hay Oxygen, đến thể rắn như, vàng, bạc, hay vừa thể khí và thể rắn như con người, động vật, và thực vật v.v. đều có cấu tạo như nhau, gồm phân tử, nguyên tử, hạt nhân và các điện tích âm quay chung quanh hạt.

Khi phân tử, nguyên tử, hay hạt nhân bị sự tác động của một nguồn năng lượng mạnh khác, như thêm vào, hay lấy đi, thì sẽ chuyển hóa sang thành một vật chất khác hay một danh xưng khác.

Nếu đứng trên góc độ về bản chất của Thực Tánh Đang Là, tuy là có sự biến dạng từ hình thể, nhưng số hạt Proton và Neutron bên trong của nguyên tử, vẫn không hề bị diệt.

Cơ thể của con người, các động vật hay thực vật, hay ngay cả vũ trụ, đều có chung một bản chất về sự cấu tạo của nguyên tử. Cho nên, cái mà chúng ta gọi là sinh tử của cơ thể, nếu nói đúng hơn, chỉ là qúa trình chuyển hóa từ vật này qua vật kia, mà không hề có sự chết, tử hay diệt.

Và trong qúa trình chuyển hóa tạo ra một vật mới khác, khó có thể nào theo quy trình của Luân Hồi.

Chúng ta hãy quan sát và nhìn sâu vào thành phần cấu tạo cơ thể của con người theo khoa hóa học. Trên căn bản, gần 99% khối lượng của cơ thể của chúng ta được cấu thành từ sáu nguyên tố: Oxygen, Carbon, Hydrogen, Nitrogen, Calcium và Phosphorus. Trong đó Oxy chiếm 65%, Carbon 18.5% và Hydro 9.5%.

Giả sử như, khi chúng ta chết, và thân thể của chúng ta bị phân hủy, thì các nguyên tố như Oxy và Hydro chiếm 75%, thuộc về dạng khí, sẽ bay lên hòa nhập với dạng khí trong không gian. Nếu lúc đó, có sấm chớp do sự va chạm giữa hai luồng khí nóng lạnh, thì Oxy và Hydro của chúng ta có thể kết hợp thêm với Nitrogen, tạo thành axít nitric hay những hạt mưa. Những hạt nước mưa này, lại được các động, thực vật khác sử dụng thành các nguồn năng lượng khác cho sự sống còn.

Vậy, làm sao một Bậc chân tri, sau khi chết, sẽ vượt qua không gian lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng, và những kẻ tội lỗi, sau khi chết thì phải chịu sự chi phối bởi định luật nghiệp báo, bị đọa đầy, khổ sở trong vòng luân hồi, cho tới khi dứt nghiệp.

Rõ ràng, nếu đứng trên góc độ về bản chất của vật chất thì sự cấu tạo về cơ thể của bậc Chân Tri và người tội lỗi đều giống nhau.

Và nếu nhìn sâu hơn, chúng ta cũng không thấy được sự Luân Hồi có mặt trên lĩnh vực vật chất. Bởi vì, trong quá trình chuyển hóa theo bản chất, thì vật chất sẽ không trở về dạng cũ được, mà có thể liên tục biến hóa, tùy theo môi trường, hoàn cảnh, hay những nguồn năng lượng chung quanh, tác động.

Hơn nữa, chúng ta cũng chẳng thấy có lực nghiệp báo nào của cá nhân tội lỗi lại bị đọa đầy khổ sở trong vòng luân hồi cả, nếu chúng ta nhìn dưới góc độ của hai khí Hydrogen và Oxygen thoát ra từ thân thể của chúng ta khi chết.

Nếu có nguồn năng lực tác động chăng thì đó chỉ là nguồn năng lượng tạo ra từ sự va chạm của hai nguồn khí, nóng và lạnh từ thiên nhiên.

Cho nên, thuyết Luân Hồi để phải chịu tội khổ sở đầy đọa, trả nghiệp cho tội lỗi kiếp trước gây ra sẽ không đúng với sự thật, khi chúng ta đứng trên góc độ Bản Chất về Vật chất Đang Như Là.

Vậy thì sự sinh tử, tái sinh, trả nghiệp, luân hồi chỉ liên quan đến tinh thần. Hay chính xác hơn, là liên quan đến những nhận thức của Ngã Thức về sinh tử, trả nghiệp, luân hồi, tái sinh v.v.

Nói đến Ngã Thức, thì chúng ta lại phải dùng đến sự vận hành của các Thức để quan sát xem có sinh tử, trả nghiệp, luân hồi, tái sinh hay không?

Trên căn bản, khi Ngã Thức của chúng ta khởi một niệm hay một vấn đề nào đó, cần đến Ý Thức để phân tích, quan sát, hay so sánh, thì vấn đề đó, chúng ta gọi là sinh (ý niệm sinh); và khi Ý thức của chúng ta, đã tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề, và đưa về Tiềm Thức lưu giữ vào kho của Ngã Thức, và Ngã Thức của chúng ta sử dụng các phương pháp để giải quyết vấn đề đó xong, thì coi như, vấn đề đó chấm dứt hay gọi là diệt, tử.

Trong qúa trình giải quyết vấn đề này sẽ có hai trường hợp xẩy ra:

Trường hợp 1: Nếu Ngã Thức ra lệnh cho Ý thức sử dụng Trí, thì vấn đề chỉ được giải quyết trên ngọn. Vì vậy, vấn đề có thể tái sinh trở lại, và bắt Ngã Thức phải sử dụng Ý Thức để tìm các giải pháp khác.

Nếu như vấn đề này, cứ trở đi trở lại, vì cứ sử dụng cách giải quyết tạm thời, thì chúng ta gọi đó là luân hồi (trở đi trở lại, theo hình thức vòng tròn). Và cứ mỗi lần, Ngã Thức phải làm lại các hành động cũ, hay thêm vào một vài hành động mới thì những hành động đó gọi là Nghiệp.

Khi những hành động/ Nghiệp tác động lên những nguồn năng lượng tiêu cực khác như: bực bội, tức giận, chán nản, thất vọng.v.v, thì sẽ tạo ra cảm giác khó chịu. Nếu những cảm giác khó chịu này kéo dài trong cuộc sống thì gọi là trả nghiệp, hay thọ nghiệp báo.

Trường hợp 2: Nếu Ngã Thức ra lệnh cho Ý thức sử dụng Tuệ thì vấn đề được giải quyết tận gốc rễ. Cho nên, sẽ không có sự tái sinh của vấn đề. Vì không có tái sinh, nên không có sự lập đi lập lại, vì vậy, cũng không có luân hồi. Nhưng ở đây, vẫn có Nghiệp, là những hành động như Quan sát, nhìn sâu, để giải quyết vấn đề. Khi vấn đề đó được giải quyết xong thì Nghiệp/ hành động quan sát, và nhìn sâu cũng chấm dứt.

Như vậy, qua trường hợp một, chúng ta thấy, định nghĩa trên khá chính xác khi diễn giải về sinh tử, tái sinh, luân hồi và trả nghiệp. Nhưng có một điều vô cùng quan trọng cần chỉnh, đó là những diễn biến này, chỉ xẩy ra trong Ngã Thức thuộc về tinh thần, chứ không phải thuộc về vật chất. Trong khi, định nghĩa trong kinh lại hướng về bản chất của vật chất, mà không phải là bản chất của tinh thần.

Điều này, chúng ta nhận thấy rất rõ qua câu, “Bậc chân tri, sau khi chết, sẽ vượt qua không gian lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng.” Thật ra, nếu là bậc Chân Tri, và Ngã Thức của bậc đó đã sử dụng Tuệ Giác để giải quyết vấn đề, thì bậc Chân Tri đó, không cần đợi đến chết mới tái sinh vượt qua không gian để tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng, mà bậc Chân Tri đó, có thể đạt đến cõi hạnh phúc vĩnh hằng ngay khi còn sống.

Điều này, cũng tương tự như những người được gọi là có tội lỗi. Họ chỉ chịu sự chi phối bởi định luật nghiệp báo, bị đọa đày khổ sở trong vòng luân hồi cho tới khi dứt nghiệp, khi họ sử dụng Trí. Nếu họ sử dụng Tuệ thì điều đó sẽ không xẩy ra. Và họ cũng có thể đến được cõi hạnh phúc vĩnh hằng ngay khi còn sống như các bậc Chân Tri.

Vậy tại sao Áo Nghĩa Thư lại có giải nghĩa, diễn dịch, một cách mập mờ, không đúng với sự thật như vậy?

Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì, khi trình độ nhận thức của con người càng ngày càng cao, con người bắt đầu ý thức về sự tồn tại của mình. Họ suy ngẫm về cuộc đời, số phận, và đi tìm lẽ sống cho con người. Cho nên, có những câu hỏi, những thắc mắc của họ liên quan đến những sự việc xẩy ra trong đời sống hằng ngày như: tại sao tôi khổ, tại sao tôi sống là một người tốt mà cuộc sống cứ nghèo khổ v.v.

Những câu hỏi khó đó, Nếu các vị Bà La Môn chưa đạt đến trình độ Chân Tri, tiếp xúc được với sự thật thì không thể giải thích được. Cho nên, họ đã đem sự sinh tử, tái sinh, luân hồi, thuộc về tinh thần, hướng qua vật chất để giải thích.

Thí dụ, nếu có một người, mà người đó tự cho là một người tốt, nhưng cứ luôn luôn gặp chuyện xấu, bị người khác lợi dụng, và luôn gặp chuyện không may xẩy ra trong đời. Nếu người này đến gặp các vị Ba La Môn để thỉnh giáo đáp án vì sao họ bị như vậy. Chuyện gì sẽ xẩy ra, nếu như vị Bà La Môn đó không thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng?

Chắc chắn, nếu vị Bà La Môn đó không thể trả lời được thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, bị mất mặt, bị coi thường, không còn được tôn trọng. Cho nên, muốn giải quyết vấn đề đó, vị Bà La Môn đó sẽ phải “diễn rộng: sự sinh tử, tái sinh, luân hồi, nhân quả, trả nghiệp thuộc về tinh thần qua vật chất, để lý giải nguyên nhân tại sao người kia đang sống là một người tốt nhưng toàn gặp chuyện không may.

Đó cũng là một trong nhưng nguyên nhân, tại sao lại phải có kiếp trước kiếp sau, vì nếu không có kiếp trước và kiếp sau thì không thể có tái sinh. Mà nếu không có tái sinh, thì không có Luân Hồi, và cũng sẽ không có nghiệp kia phải trả.

Vậy thì làm sao có thể giải thích được những việc không may đang xẩy ra với người kia. Bởi vậy, tạo ra tư tưởng có kiếp trước và kiếp sau là hoàn toàn hợp lý. Vì chỉ cần vin vào kiếp trước của người đó đã có những hành động tội lỗi, nên kiếp này phải trả là chuyện tất nhiên.

Nếu như người đó cắc cớ, không chấp nhận kiếp trước và kiếp sau, thì vị Bà La Môn có thể dẫn chứng cả ngàn câu chuyện qua phỏng đoán, suy tưởng, nhằm thuyết phục, hay răn đe, qua sự trừng phạt hay đọa đầy của Thần linh, hay đưa ra một số những dữ kiện về một số người có thể nhớ lại kiếp trước để bảo vệ cho sự lý giải này.

Trong khi, tất cả kinh điển đều không có bất cứ một chứng minh nào về kiếp trước. Và cũng không ai biết được kiếp trước họ là ai, họ đã tạo ra lỗi lầm gì? Ngoài những câu giải thích miễn cưỡng như: gieo nhân nào thì gặt qủa đó. Hay vì nặng nghiệp của kiếp trước nên kiếp này phải trả.v.v.

Nhưng sự thật có phải vậy không? Chúng ta chỉ cần quan sát lại sự vận hành của các thức thì sẽ rõ.

Các nhà Tâm Lý học ngày nay đã chứng minh rằng: Trong một giây, Tiềm Thức của chúng ta tiếp nhận 11 triệu thông tin, trong khi đó, chỉ có 40 thông tin được Ý Thức nhận dạng.

Như vậy, trong hai mươi bốn giờ, Tiềm Thức của chúng ta tiếp nhận khoảng 15,840 tỷ thông tin. Có những thông tin hoàn toàn mới, có những thông tin liên quan đến những vấn đề mà chúng ta chưa giải quyết, có những thông tin liên quan đến sự khổ đau mà chúng ta đang trốn chạy.

Qua sự thực nghiệm của các nhà tâm lý, chúng ta thấy, một người luôn gặp chuyện xui xẻo, không may mắn trong cuộc sống, chẳng mắc mớ gì đến nghiệp phải trả từ kiếp trước, hay phải chịu sự khổ đau về tinh thần, mà những việc xẩy ra mang đến sự xui xẻo, bất hạnh trong cuộc sống, phát xuất từ sự trốn tránh giải quyết các vấn đề, và nếu có giải quyết, họ chỉ sử dụng Trí. Họ chỉ giải quyết mang tính cách tạm thời. Họ chỉ giải quyết trên ngọn mà không xuống tận gốc rễ.

Hãy lấy một thí dụ để minh họa;

Một người thiếu tiền để trả tiền nhà, Ngã Thức của anh chàng này đã quyết định dùng Trí để giải quyết vấn đề thiếu tiền như sau: đi mượn tiền bạn để trả.

Khi người bạn cho mượn tiền, người đó có cái An tạm thời, không lo bị chủ nhà đuổi. Nhưng người đó lại không nghĩ cách để kiếm ra tiền, trả lại cho người bạn. Ngược lại, khi có tiền, lại tiêu xài hoang phí, đi ăn chơi cho thỏa thích. Đến tháng sau, lại thiếu tiền, lại đi gọi người bạn để mượn tiền. Nếu người bạn không cho mượn tiền, và đòi lại số tiền cho mượn tháng trước, thì người đó nổi giận, cho rằng, người bạn đó là người xấu.

Và nếu, không mượn được tiền của ai khác nữa thì sự bất an vì bị người chủ đuổi nhà, cộng thêm cơn giận người bạn không chịu thỏa mãn cho mình. Cho nên, đặt điều đi nói xấu người bạn, và viện lý do, người bạn là người xấu, nên cũng không chịu trả lại số tiền đã mượn, coi như là một sự trừng phạt.

Nếu có ai đó, hỏi người đi mượn nợ là người như thế nào, thì chắc chắn người đó sẽ nói rằng, họ là người tốt, họ đã luôn trả tiền khi hai người đi ăn chung, hay khi người đó đi mua quần áo cũng đã mua cho người kia v.v.

Điều mà người đi mượn tiền tự diễn dịch định nghĩa những việc làm của người đó theo Ngã Thức của người đó muốn, và dựa vào những hành động đó, gọi là người tốt; thì người đó, có thật sự là một người tốt không?

Và nếu người tốt đó, cứ tiếp tục hành động như vậy thì có còn ai muốn chơi với người đó không?, và khi người đó gặp khó khăn thì có ai muốn giúp không?

Nếu không có ai giúp thì “người tốt” đó sẽ than van rằng: cuộc đời của họ sống là một người tốt, nhưng sao toàn gặp chuyện xui xẻo, kém may mắn, luôn bị người khác lợi dụng.

Và nếu người này, tin vào có kiếp trước, kiếp sau, có  luân hồi, nhân quả, có trả nghiệp, vì kiếp trước đã gây ra lỗi lầm để tự an ủi mình, thì vĩnh viễn, người này sẽ không bao giờ gặp may mắn được, và cũng không thể nào đạt đến sự giải thoát được.

Vì vấn đề của người này, bắt đầu tự sự diễn dịch định nghĩa “uốn nắn” theo Ngã Thức, đưa đến những sự suy nghĩ, nhận thức sai lầm, từ đó, đưa đến cách hành xử vụng về, và tạo ra sự đau khổ cho chính mình, ngay trong kiếp này, chứ không phải từ kiếp trước hay kiếp sau nào cả. Và cái giá phải trả cho những hành động vụng dại, cũng bắt đầu ở kiếp này, chứ không phải từ kiếp trước.

Nếu chúng ta hiểu sự vận hành của các Thức, chúng ta biết, bất cứ một vấn đề nào xẩy ra trong cuộc sống của chúng ta, nếu là xấu thì bắt đầu bằng sự trốn chạy, đè nén, hay chọn cách giải quyết vấn đề một cách tạm thời của chúng ta trong cuộc sống đã tạo nên.

Có thể, vì chúng ta, qua quá trình đè nén, nên tưởng rằng, chúng ta không có vấn đề. Nhưng khi Tiềm Thức của chúng ta tiếp nhận thông tin, sắp xếp, và liên kết sẽ đưa vấn đề đó trở lại và đòi cách giải quyết.

Vì Ngã Thức của chúng ta đã từng thất bại không có cách giải quyết trước đây, nếu lần này, lại tăng thêm ngưồn năng lượng mới sẽ khiến Ngã Thức của chúng ta bị “đuối”, và dần rơi vào chỗ tê liệt, không còn sử dụng được Ý Thức, nên sẽ tạo ra những hành động vụng dại, và tạo ra vô số nhân mới, cũng như tạo ra những hậu quả mới.

Một người, nếu cứ liên tục gánh và chịu những nhân mới và hậu quả mới trong cuộc đời thì chúng ta quen gọi là người xấu số, hay bất hạnh, hay kém may mắn là chuyện tất nhiên, chẳng liên quan gì đến kiếp trước họ có gây ra lỗi lầm gì hay không? Và cũng chẳng liên quan gì đến vấn đề, họ có là người tốt hay người xấu hay không?

Sự thật, cái họ đang trả Nghiệp là do sự đè nén, trốn tránh giải quyết vấn đề trong chính Ngã Thức của họ, chứ không phải họ là người xấu hay người tốt.  Người nào, dù tốt hay xấu, khi có vấn đề, chỉ lo trốn chạy, hay tìm cách đè nén, thì người đó luôn gặp bất hạnh, kém may mắn trong cuộc đời.

Qua sự quan sát này, chúng ta có thể giải thích luôn, tại sao một người sống đầy tội lỗi nhưng vẫn hưởng được sự may mắn giầu sang, hạnh phúc.

Đơn giản, là vì họ chịu đi giải quyết vấn đề của họ, còn người tốt thì không. Chứ không liên quan gì đến kiếp trước của họ đã làm điều tốt, nên kiếp này họ hưởng. Và nếu như kiếp trước họ đã làm việc tốt rồi, thì kiếp này, họ phải mang theo những điều tốt đó, họ phải sống có đạo đức hơn, chứ sao họ lại sống có tội lỗi hơn.

Cho nên, nếu chúng ta muốn cuộc sống của chúng ta có An Lạc, hạnh phúc, may mắn, thì chúng ta chỉ cần đương đầu với các vấn đề của chúng ta, mà không trốn chạy hay tìm cách đè nén. Và khi giải quyết thì nên ứng dụng phương pháp Tứ Diệu Đế, hay Bốn Bước để tìm ra nguyên nhân, gốc rễ của vấn đề, và đi giải quyết ngay tại gốc rễ đó.

Vì vậy, đem sự sinh tử, tái sinh, luần hồi, nhân quả, trả nghiệp của tinh thần, hay đúng hơn là của Ngã Thức, qua áp dụng cho vật chất là một tư tưởng không chính xác, hợp lý và cần chỉnh sửa.

Vậy còn quan điểm của Đạo Phật khi giảng giải về Luân Hồi thì sao? Theo Thư Viện Mở thì:

“Luân hồi còn gọi là vòng luân hồi hay bánh xe luân hồi, có khi được gọi là hữu luân, vòng sinh tử, hoặc giản đơn là Sinh Tử. Thuật ngữ này, chỉ những lần đầu thai tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài hữu tình, khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn.

Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là tam độc: tham, sân và si. Tùy vào nghiệp của chúng sinh đã tạo trong quá khứ, mà chúng sinh đó sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi: trời, thần (a-tu-la), người, súc sinh, quỷ đói (ngạ quỷ), địa ngục.

Sáu cõi luân hồi là thuật ngữ trong Phật giáo, dùng để chỉ về những con đường mà chúng sinh sẽ tái sinh vào, sau khi chết. 6 cõi luân hồi bao gồm:

  • Cõi trời
  • Cõi thần
  • Cõi người
  • Cõi súc sinh
  • Cõi ngạ quỷ
  • Cõi địa ngục

Đặc điểm chung của các cõi luân hồi là vô thường, chúng sinh sau khi chết sẽ được tái sinh vào một trong 6 cõi này.

Tùy theo nghiệp của chúng sinh đã làm được nhiều việc tốt hoặc cố tình làm nhiều việc xấu sẽ được tái sinh vào các cõi trên là các cõi trời, cõi thần, cõi người (dành cho chúng sinh có nhiều việc làm tốt) hoặc sẽ tái sinh vào các cõi dưới là cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, cõi địa ngục (dành cho chúng sinh có nhiều việc làm xấu). Còn những chúng sinh đã chứng quả A-La-Hán thì sẽ không phải luân hồi sau khi chết nữa.

Sau khi tái sinh, phần lớn các chúng sinh sẽ không còn nhớ gì về kiếp trước đó. Các chúng sinh sẽ có một cuộc đời mới. Việc chúng sinh sẽ tái sinh vào cõi nào sau khi chết có thể dự đoán được nếu quan sát cận tử nghiệp của chúng sinh đó.”

Qua quan sát và nhìn sâu vào quan điểm về Nghiệp và Luân Hồi của đạo Phật, chúng ta thấy, những tư tưởng về Nghiệp và Luân hồi, gần giống hoàn toàn với Ấn Độ giáo.

Vì vậy, ngoài việc sử dụng và diễn nghĩa của Áo Nghĩa Thư như: có kiếp trước kiếp sau, tái sinh, luân hồi trả nghiệp ra, thì ở đây, đạo Phật cũng dùng đến một cõi đặc biệt, đó là cõi địa ngục.

Trong Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch, có đoạn viết về địa ngục như sau:

Tư tưởng địa ngục, tuy đã manh nha từ thời đại Lê Câu Vệ Đà, nhưng vẫn chưa rõ ràng, đến A Thát Bà Vệ Đà, và Phạm Thư, nó mới được biểu hiện dần dần, và cuối cùng, đến thời đại Phật giáo, thì tư tưởng đó trở nên rất thịnh. Những kỷ tải của nó, liên tục trải qua các niên đại, và dần dần đã được phô bày một cách tinh tế. Trong các kinh điển nguyên thủy của Phật giáo, hoặc Ma Ha Bà La Đa thứ 12 cũng đều đã nói đến.

Trên căn bản, về định nghĩa của địa ngục có 28 loại, nhưng ở đây, chúng ta chỉ quan sát về 7 Định nghĩa của địa ngục, như sau:

  • Khiếu Hoán Địa Ngục, là chỗ đi đến của những người chỉ biết lợi mình, không đoái hoài gì đến lợi của chúng sanh. Nỗi khổ là do rắn hành hạ.
  • Bình Chử Địa Ngục, là nơi ở của những kẻ giết người hay thú vật. Nổi khổ là bị chưng trong chảo dầu.
  • Hắc Thằng Địa Ngục, là nơi đi đến của những người giết cha mẹ hay giết Bà La Môn. Địa ngục này rộng một vạn do tuần, trên dưới do đồng nóng đốt cháy. Tội nhân chịu khổ trải qua vô số kiếp.
  • Đao Diệp Lâm Địa Ngục, là nơi đi đến của những người bỏ kinh Vệ Đà để chạy theo những kẻ mê tín dị đoan.
  • Thực Trùng Địa Ngục, là nơi đi đến của những người không tế lễ, không bố thí cho người khác. Nỗi khổ là bị ác trùng ăn thịt.
  • Ngục Khuyển Địa Ngục, là chỗ ở của những kẻ làm nghề giặc cướp, bóc lột người khác. Nỗi khổ là do 720 con chó của sứ giả Diêm Ma cắn xé.
  • Vô Gián Địa Ngục là nơi của những kẻ giả dối, lừa gạt. Nổi khổ là đứng trên một mỏm đá cao 100 do tuần mà lộn nhào xuống, và cứ thế tiếp tục, không bao giờ ngừng.

Qua 7 định nghĩa về địa ngục này, chúng ta thấy, hầu như những hình phạt này, dựa hoàn toàn vào luật pháp của thế gian, sau đó, qua sự suy luận, phỏng đoán, và phóng đại lên thành một cõi, dùng để trừng phạt những người vi phạm sau khi chết. Trong đó, Đao Diệp Lâm Địa Ngục là nơi trừng phạt những ai bỏ kinh Vệ Đà để chạy theo mê tín dị đoan.

Đây có thể nói là một sự đe dọa cực kỳ vô lý, và là sự phóng đại, suy diễn, phỏng đoán, một cách vô cùng thiếu chính xác và đi ngược lại những gì mà giáo lý của đức Phật đã chủ trương.

Giáo lý của Đức Phật là những phương pháp, giúp cho người thực tập chú tâm đến việc sử dụng Tuệ nhiều hơn Trí.

Là một bậc Giác giả, đức Phật không thể nào không phân biệt được sự khác biệt giữa Trí và Tuệ, cũng như không thể nào, Ngài không biết cách giải quyết một vấn đề một cách rốt ráo, để đạt đến sự An Tịnh, không khổ đau.

Rõ ràng, bài pháp thoại đầu tiên khi truyền sự trải nghiệm cho năm anh em Kiều Trần Như, Ngài đã truyền lại Tứ Diệu Đế. Một phương pháp tuyệt vời để phát triển Tuệ Giác, và cách thức giải quyết vấn đề một cách rốt ráo để đạt sự An Lạc, giải thoát khỏi khổ đau.

Cho nên, không thể nào Ngài lại không biết sinh tử, tái sanh, luân hồi, nhân quả, trả nghiệp chỉ thuộc về tinh thần hay Ngã Thức, chứ không thuộc về vật chất.

Chính vì vậy, không thể nào, Ngài lại sử dụng một cõi như địa Ngục để đe dọa, trừng phạt con người, nếu họ phạm tội nơi trần gian nhưng lại trả Hậu Quả nơi Địa Ngục.

Qua đó, chúng ta có thể thấy, đứng trên góc độ về Nghiệp và Luân Hồi của đạo Phật, thì hệ thống tư tưởng này gần như sử dụng 99% tư tưởng của Kinh Vệ Đà. Duy nhất 1% khác biệt, đó là xác định ai đạt được quả A La Hán thì được giải thoát khỏi luân hồi.

Cho nên, chúng ta có thể khẳng định, hệ tư tưởng về Nghiệp và Luân hồi sẽ không do đức Phật giảng dậy, mà đây là do các đệ tử của ngài, vốn đã lầu thông kinh điển Vệ Đà, và Áo Nghĩa Thư đã thêm vào trong những lần kiết tập, sau khi Đức Phật Nhập Diệt.

Chính vì vậy, tai sao trong đạo Phật lại có thêm Thiền Tông?

Nguyên do, là vì, các vị Thiền Tổ đã thấy có qúa nhiều “sạn” trong giáo nghĩa, kinh văn của đức Phật được truyền lại sau này. Vì vậy, tông chỉ của Thiền Tông là:

Bất Lập Văn Tự

Giáo Ngoại Biệt Truyền

Trực Chỉ Chân Tâm

Kiến Tánh thành Phật

Nghĩa là, không lập thành văn tự giáo nghĩa, chỉ thẳng vào tâm người, thấy tánh thành Phật.

Quả thật như chú nói Nghiệp và Luân Hồi là một đề tài qúa lớn, dù cho có diễn giải như thế nào cũng có người chấp nhận, người không.

Nhưng qua các chia xẻ dưới góc nhìn sự vận hành của các Thức, cháu đã hiểu rõ hơn về Nghiệp là Luân Hồi. Nhật Minh lên tiếng.

Diệu Hiền nhìn đồng hồ, rồi nói:

Giời ạ, đã hơn chín giờ, chúng cháu xin phép đi về, chiều mai, chúng ta sẽ “luân hồi” tiếp nha chú.

Nghe Diệu Hiền đùa về hai chữ Luân Hồi, ông chú cười vang.

MỘT VỐN BỐN LỜI

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRẦN THIỆN TÍCH
TẢI MP3 – MỸ LINH P1
TẢI MP3 – MỸ LINH P2

Bạn Thân Mến,

Chủ đề hôm nay chúng tôi muốn chia xẻ với bạn một góc độ nhìn về kinh doanh Thức Ăn Nhanh của Việt Nam, mà người quen chúng tôi đang muốn phát triển.

Trong qúa trình nghiên cứu và rút ra những bài học trong ứng dụng, để chia xẻ với người quen của chúng tôi, chúng tôi cũng chia xẻ lại với bạn. Biết đâu, với những góc độ nhìn mới này, bạn sẽ trở thành một ông trùm trong nghành Thức Ăn Nhanh sau này, thì sao.

Phần đông, những người có kinh nghiệm về nhà hàng đều có chung một quan điểm: kinh doanh nhà hàng là lối “kinh doanh vĩnh cữu – một vốn bốn lời.”

Ngày nào, còn có người sống thì ngày đó còn có người ăn. Mà hễ còn có người ăn thì còn có thể kinh doanh sinh ra lợi nhuận.

Nếu như bạn cũng đồng quan điểm với họ thì khi nhìn vào những nhà hàng đông nghẹt khách, bạn có nhen nhúm ý định muốn làm giầu từ ngành này không?

Hay bạn đã có sẵn vốn và một địa điểm lý tưởng để kinh doanh, nhưng còn phân vân vì nhiều lý do khác? Bạn e rằng, bạn chưa nắm được đầy đủ thông tin về công việc thú vị nhưng cũng đầy mạo hiểm này; hay là, việc kinh doanh này có thể sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình bạn?

Dù với lý do nào, kinh doanh nhà hàng cũng là một nghành kinh doanh đáng cho bạn suy ngẫm. Chỉ cần bạn có một tư duy đúng đắn, một kế hoạch rõ ràng, một sách lược hợp lý thì lo gì bạn không thành công.

Người xưa có câu: “thất bại là mẹ thành công”. Vậy, nếu muốn thành công thì không có gì hay hơn bằng, bạn hãy học từ những điều thất bại.

Sau đây là 12 sai lầm nghiêm trọng, mà các doanh nhân khởi nghiệp trong nghành ẩm thực nhà hàng thường mắc phải.

  1. Thiếu Kế Hoạch Kinh Doanh
  2. Thiếu Kinh Nghiệm Quản Lý
  3. Thiếu Vốn
  4. Tin Tưởng Sẽ Kiếm Được Tiền Ngay Sau Khai Trương
  5. Thiếu Xây Dựng Quy Chế Làm Việc Và Đào Tạo Nhân Viên
  6. Chọn Sai Địa Điểm
  7. Làm Theo Sở Thích Của Mình
  8. Cố Gắng Làm Hài Lòng Mọi Người
  9. Thiếu Sự Chuẩn Bị Cho Ngày Khai Trương
  10. Không Biết Mình Là Ai?
  11. Kinh Doanh Đa Nghành Nghề
  12. Sợ Thất Bại

Vậy làm sao bạn có thể tránh được 12 sai lầm nghiêm trọng nêu trên?

Muốn khắc phục những sai lầm này thì đây là 10 điều căn bản bạn cần phải có để đạt đến thành công:

  1. Có Sự Tư Duy Đúng Đắn
  2. Biết Mục Đích Rõ Ràng
  3. Biết Lắng Nghe và Có Đầu Óc Cởi Mở
  4. Biết Bạn Muốn Gì?
  5. Biết Bạn Cần Gì?
  6. Thực Sự Mong Muốn Tự Chủ
  7. Đam Mê Trong Công Tác Điều Hành Doanh Nghiệp
  8. Có Hoặc Luôn Cố Gắng Trau Dồi Học Hỏi Kinh Nghiệm Kinh Doanh
  9. Có Kiến Thức Cơ Bản về Kế Toán và Kiểm Soát Tài Chính
  10. Thông Hiểu Tâm Lý Khách Hàng

Dĩ nhiên, không phải ai khởi nghiệp kinh doanh cũng có đầy đủ 10 điều nêu trên, mà bạn cần phải có thời gian dài để bạn tự học hỏi và trau dồi.

Nhưng cách nhanh nhất, vẫn là nhờ sự cố vấn hay giúp sức từ những người có kinh nghiệm. Vì sao?

Bởi vì, họ đã bỏ ra thời gian và tiền bạc để đầu tư và tích lũy kinh nghiệm cho bạn. Cho nên, hãy sử dụng những “sở trường” của họ để bổ khuyết cho những “sở đoản” của bạn.

Như vậy, thành công của bạn sẽ nhanh và có hiệu quả hơn nhiều. Hãy lấy một thí dụ đơn giản như khi bạn bị bịnh thì bạn sẽ làm gì?  Có bốn giải pháp như sau:

  1. Bạn không làm gì cả
  2. Bạn tự chữa cho bạn
  3. Bạn bỏ thời gian và tiền bạc ra, học làm bác sĩ để tự chữa cho bạn
  4. Bạn trả tiền cho bác sĩ khám bịnh cho bạn

Với giải pháp 1, chỉ xẩy ra khi bạn không còn có cơ hội, hay tiền bạc.Với giải pháp 2, chỉ áp dụng khi bịnh của bạn không nghiêm trọng. Với giải pháp 3, bạn phải tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc, chắc chắn, bạn chỉ chọn phương án này khi đó là niềm đam mê của bạn.

Vì vậy, thông thường, 95% chúng ta sẽ chọn giải pháp 4, nghĩa là, trả tiền cho bác sĩ khám, và trị bịnh cho chúng ta. Việc đó xẩy ra quá quen thuộc, đến độ, ai trong chúng ta cũng đều tâm niệm rằng “hễ bịnh thì đi bác sĩ”.

Tại sao, khi bịnh, bạn phải đi bác sĩ? Bởi vì, bạn không muốn chết sớm. Bởi vì, bác sĩ là người được đào tạo để chẩn đoán, và đưa ra giải pháp điều trị, giúp cho bạn chiến thắng bịnh tật, đạt được sức khỏe lâu dài.

Trong kinh doanh của bạn cũng vậy, nếu như bạn không có đủ những yếu tố để đem đến thành công cho bạn thì bạn cũng đừng nản lòng. Cách hay nhất là, bạn nên đi tìm những nhà cố vấn có kinh nghiệm về đầu tư trong kinh doanh và nhờ họ giúp bạn.

ĐẦU TƯ NHÀ HÀNG THỨC ĂN NHANH VIỆT NAM

Văn Hóa Ẩm Thực Hoa Kỳ

Ngày xưa, vào thời kỳ tiền sử, khi con người còn sống trong giai đoạn ăn lông ở lỗ, thì ăn chỉ mang một ý nghĩa đơn giản là duy trì sự sống.

Nhưng từ khi tri thức của con người phát triển; từ khi con người đã tìm ra lửa, biết trồng ngũ cốc, nuôi gia súc, gia cầm, tạo ra những gia vị v.v, thì ăn đã tạo ra một nét văn hóa riêng, gọi là văn hóa ẩm thực.

Càng ngày nền văn hóa ẩm thực càng trở nên tinh xảo hơn, và mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, lại có một nền văn hóa ẩm thực đặc thù. Nếu đem so sánh với thời kỳ ăn lông ở lỗ,  “ăn để sống”, thì ngày nay, với nền văn hóa ẩm thực hiện đại, con người không phải chỉ có “ăn để sống” không thôi, mà khối người: “sống để được ăn.”

Riêng tại Hoa Kỳ, nền văn hóa ẩm thực đã trở nên “thiên biến vạn hóa”, phong phú, đa dạng, đa thể, và khác thường.

Nguyên do là vì, mỗi sắc dân đến định cư tại Hoa Kỳ, họ đều mang theo nền văn hóa ẩm thực của xứ sở họ để đóng góp vào nền văn hóa ẩm thực chung của Hoa Kỳ.

Từ đó, tạo nên một nền “văn hóa ẩm thực hợp chủng-đa hệ”, không có một nước nào trên thế giới có được.

Thống Kê

Với dân số hơn ba trăm triệu người, và chỉ số lương bổng hằng năm khá cao so với toàn thể thế giới; kinh doanh trong nghành ẩm thực tại Hoa Kỳ được xem là nghành kinh doanh khá ấn tượng, chiếm 2.5% tổng sản lượng thu nhập của toàn quốc.

Theo dự báo của Hiệp hội Nhà hàng Quốc Gia, doanh số bán hàng tại các địa điểm ăn uống của Hoa Kỳ sẽ tăng 10,2% vào năm 2021, và doanh thu ước tính lên đến gần 900 tỷ USD, do người tiêu dung được thỏa mãn nhu cầu dồn nén về trải nghiệm nhà hàng, mà họ đã bị từ chối trong đại dịch. Với:

  • 12,5 triệu nhân viên ngành nhà hàng vào cuối năm 2020, giảm 3,1 triệu so với mức dự kiến
  • 9/10 nhà hàng có ít hơn 50 nhân viên
  • 7 trong 10 nhà hàng là hoạt động đơn lẻ
  • 8 trong 10 chủ nhà hàng bắt đầu sự nghiệp trong ngành của họ ở các vị trí cấp thấp

Thì, ngành nhà hàng phục vụ nhanh (fast food) ở Hoa Kỳ, được dự báo sẽ đạt 281,68 tỷ đô la, vào năm 2021. So với doanh thu đạt hơn 200 tỷ đô la vào năm 2020.

Và đây là 7 ông trùm bán thức ăn nhanh lớn nhất thế giới.

Không phải McDonald’s, KFC, hay Pizza Hut, mà ngôi vị đứng đầu trong làng thức ăn nhanh thế giới lại là Subway.

  1. SUBWAY – 41,000 CỬA HÀNG

Được sáng lâp bởi Fred Deluca năm 1965, tại Miford Connecticut, với số vốn khởi đầu là $1,000 USD. Subway là một trong những chuỗi thức ăn nhanh phát triển nhanh nhất thế giới, khi đã có mặt ở 105 quốc gia khác nhau. Subway chủ yếu bán bánh sandwich và salad. Trên 25.000 cửa hàng ở Mỹ, và hơn 14,900 cửa hàng khác ở ngoài biên giới quốc gia. Tại các thị trường mới nổi, Subway có trên 3,000 cửa hàng.

  1. MCDONALD’S – 39,198 CỬA HÀNG

Mặc dù, đứng thứ hai về số lượng cửa hàng, nhưng McDonald’s lại xếp thứ nhất ở mặt hàng bánh Hamburger ở 119 quốc gia khác nhau. Được thành lập từ năm 1954, hiện nay McDonald’s có 18.332 cửa hàng ở Bắc Mỹ, và hơn 20,000 cửa hàng ở các nước khác. Trong đó có 5.942 cửa hàng ở các thị trường mới nổi. Cuối năm 2020, giá trị thương hiệu doanh thu ước tính khoảng 129,32 tỷ đô la Mỹ. Trong đó, lợi nhuận ròng vào khoảng 19.2 tỷ USD.

  1. KENTUCKY FRIED CHICKEN (KFC) – 25,000 CỬA HÀNG

Có trụ sở chính tại Louisville, Kentucky, bên cạnh mặt hàng chủ lực là gà chiên, KFC cũng bán cả bánh Hamburger, salad, gà chiên Pháp và nhiều đồ ăn khác nữa. Tại Mỹ, hiện KFC đang có 4,062 cửa hàng, và hơn 20,000 cửa tiệm tại nước ngoài.

  1. BURGER KING – 18,625 CỬA HÀNG

BK là từ viết tắt của Burger King đã là cái tên quen thuộc trong thị trường thức ăn nhanh của Mỹ thành lập từ năm 1953. Hiện nay, chuỗi cửa hàng của BK đã vươn tói 73 quốc gia khác nhau, bên cạnh 7.257 cửa hàng tại quê nhà.

  1. DOMINO’S PIZZA – 17,644 CỬA HÀNG

Domino’s Pizza có trụ sở chính tại Charter Township, Michigan, được thành lập từ những năm 60 của thế kỷ trước. Hiện Domino Pizza đã mở rộng mô hình kinh doanh ra 70 quốc gia khác nhau, gồm 6,355 cửa hàng trong nước Mỹ, và hơn 11,000 cửa hàng tại nước ngoài.

  1. PIZZA HUT – 11,000 CỬA HÀNG

Pizza Hut thực ra là công ty con của Yum!, thương hiệu rất được giới trẻ yêu thích. Kể từ ngày thành lập năm 1958, hiện Pizza Hut đã có mặt ở 94 quốc gia khác nhau, trong đó, có 6,685 cửa hàng được mở tại Mỹ. Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Pizza Hut là bánh Pizza, bên cạnh bánh mì, mì ống, salad và các thức ăn nhẹ khác.

  1. WENDY’S – 5,888 CỬA HÀNG

Wendy là chuỗi cửa hàng Hamburger lớn thứ ba thế giới, sau McDonald’s năm 2010. Wendy‘s được thành lập năm 1969 bởi Dave Thomas và có trụ sở tại Ohio, Mỹ. Ở bên ngoài biên giới xứ cờ Hoa, Wendy’s chỉ có khoảng gần 700 cửa hàng – khá chênh lệch so với thị trường nội địa.

ĐÓNG CỬA

Nếu 7 ông trùm trong nghành kinh doanh ẩm thực mỗi ngày một bành trướng đến chóng mặt, thì không ít những doanh nhân đầu tư trong nghành ẩm thực nhà hàng lại đành phải “ngậm cười nơi chín suối.”

Theo kết quả nghiên cứu của trường đại học Ohio, tỷ lệ đóng cửa cao nhất của các nhà hàng là 26% trong năm đầu tiên, 19% trong năm thứ hai, và 14% trong năm thứ ba.

Như vậy, trong vòng 3 năm thì có khoảng 59% nhà hàng sẽ đóng cửa. Nguyên do là vì họ đều vướng vào trong 12 thiếu sót, sai lầm sau đây.

PHÂN TÍCH 12 THIẾU SÓT SAI LẦM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ HÀNG

  1. THIẾU KẾ HOẠCH KINH DOANH

Kế hoạch kinh doanh là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp. Nhiều chủ doanh nghiệp nhà hàng đã thất bại, vì yếu tố này.

Một kế hoạch kinh doanh được xem là tốt, khi kế hoạch đó mang tính thực tế, khả thi, và phải dựa trên những thông tin chính xác và cập nhật nhất, đồng thời, phải mang tính chiến lược. Một kế hoạch kinh doanh được xem là hoàn chỉnh, cần phải bao gồm các yếu tố sau:

  • Mô tả tầm nhìn, mục tiêu và những yếu tố dẫn đến thành công của doanh nghiệp
  • Nhu cầu lao động
  • Các vấn đề và các giải pháp tiềm ẩn
  • Tài chính: vốn trang thiết bị, bảng cân đối thu chi, phân tích lợi tức, phân tích lưu chuyển tiền mặt, dự báo chi phí và dự báo doanh thu
  • Phân tích cạnh tranh
  • Tiếp thị, quảng cáo và các hoạt động khuyến mãi
  • Quản lý ngân sách và quản lý tăng trưởng của doanh nghiệp

Thiếu một kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp thì cũng giống như đời người, sống không có mục đích, hay không có định hướng vậy. Có mấy ai trong đời sống không có mục đích, hay định hướng mà thành công lớn đâu? Kinh doanh của bạn cũng vậy.

  1. THIẾU KINH NGHIỆM QUẢN LÝ

 Đây là lý do hàng đầu dẫn đến thất bại của các doanh nghiệp mới thành lập. Các chủ doanh nghiệp mới thường thiếu những kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến trình độ quản lý và điều hành như: tài chính, phục vụ, bán hàng, tiếp thị, thuê mướn, huấn nghệ, và điều hành nhân công, v.v.

Nguy hiểm hơn, họ lại không tự nhận ra những lỗ hổng, hay thiếu kém về những kiến thức cũng như kinh nghiệm này. Đồng thời, họ cũng không chịu tìm sự hỗ trợ từ những người chuyên nghiệp, nên các chủ doanh nghiệp đã sớm phải đối mặt với những khó khăn lớn.

Sự thiếu thường xuyên nghiên cứu, tổ chức sắp xếp, lên kế hoạch, và kiểm soát tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu thị trường, cập nhật dữ liêu khách hàng, v.v, thì dễ dẫn đến suy sụp nhanh chóng, đâu phải là chuyện lạ.

  1. THIẾU VỐN

Đây là việc rất thường thấy ở những doanh nhân kinh doanh nghành nhà hàng, và nó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại nhanh chóng của các nhà đầu tư trong lĩnh vực ẩm thực.

Thông thường, khi bạn muốn kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, bạn phải dự trữ ít nhất khoảng 20% đến 30% kinh phí đầu tư làm quỹ dự phòng. Vì trong 6 tháng đầu hoạt động, chắc chắn, nhà hàng của bạn sẽ không thể đông khách như bạn mong muốn.

  1. HY VỌNG SẼ KIẾM ĐƯỢC TIỀN NGAY SAU KHAI TRƯƠNG

Thông thường, khi bạn đã bỏ vốn ra kinh doanh, bạn luôn mong muốn sẽ kiếm được lời nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu bạn nghĩ việc kinh doanh nhà hàng có thể sinh lời ngay sau ngày đầu khai trương, chắc chắn, bạn đang sống trong mơ.

Thực tế, ngày nay, có một số nhà hàng hoạt động rất tốt, nhưng vẫn phải bù lỗ trong những tháng đầu tiên. Thậm chí, nếu bạn đạt doanh thu tốt trong thời gian đầu, bạn cũng phải dùng số tiền đó để trang trải cho việc đầu tư ban đầu. Do đó, bạn phải luôn theo sát và điều chỉnh sao cho thật hợp lý chi phí lao động và thực phẩm theo số lượng khách. Và điều quan trọng nhất, phải có đủ tiền để trang trải những khoản lỗ phát sinh trong thời gian đầu.

Đừng ảo tưởng và hy vọng, vì trong kinh doanh luôn đòi hỏi bạn phải có “một trái tim nóng (đam mê), và một cái đầu lạnh (biết tính toán), chứ không phải một “trái tim lạnh (tính toán) và cái đầu nóng (mong chờ).

  1. THIẾU XÂY DỰNG QUY CHẾ LÀM VIỆC VÀ ĐÀO TẠO NHÂN VIÊN

Ngoài chức trách đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của nhà hàng của bạn ra, nhân viên của bạn còn là lực lượng nòng cốt, là tài sản của doanh nghiệp.

Nếu bạn cho rằng việc đào tạo nhân viên là mất thời gian, và tốn nhiều chi phí, thì đây là những quan niệm rất sai lầm.

Một nhà hàng, nếu bạn không xây dựng được quy chế làm việc rõ ràng, nghiêm chỉnh, thì chẳng mấy chốc, hình ảnh nhà hàng của bạn sẽ xấu đi trong mắt khách hàng.

Một khi đã xấu đi, dù cho bạn có tốm kém gấp năm, hay mười lần số thời gian, và chi phí cho việc đào tạo nhân viên lúc đầu, cũng khó mà lấy lại lòng tin nơi khách hàng được. Đừng để “mất trâu rồi mới làm chuồng.”

  1. CHỌN SAI ĐỊA ĐIỂM

Mặt bằng thuận lợi luôn là một yếu tố quan trọng, bởi vì, nó cũng đóng góp không nhỏ vào quyết định sự thành bại trong kinh doanh nhà hàng của bạn. Vì thế, bạn không nên thuê một địa điểm không phù hợp để tiết kiệm tiền.

Chỉ cần đặt một câu hỏi như sau: bạn muốn tiết kiệm một chút tiền thuê mặt bằng, hay thuê chỗ rẻ, để rồi một thời gian sau thì nhà hàng của bạn sẽ đóng cửa? hay là bạn chọn địa điểm thích hợp với gía mắc hơn một chút, nhưng bạn có thể tồn tại lâu dài, là bạn sẽ hiểu ra ngay, tại sao bạn phải chọn một mặt bằng tốt để thuê.

Nếu như bạn vẫn kiên quyết mở nhà hàng ở một nơi khuất thì bạn phải chắc rằng: nhà hàng của bạn là một nhà hàng rất nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống. Nếu không thì bạn đừng mong có người cất công đi tìm.

  1. LÀM THEO SỞ THÍCH CỦA MÌNH

Rất nhiều doanh nhân, khi mở nhà hàng thường quan niệm rằng, những cái họ thích, những cái họ thấy đẹp, thấy ngon thì khách hàng cũng sẽ cảm thấy như vậy.

Việc này đôi lúc không sai, nhưng bạn cần nhớ kỹ rằng, khách hàng mới chính là người quyết định, và bạn bắt buộc phải phục vụ theo nhu cầu của họ.

Có những nhà hàng, lúc nào cũng nườm nượp khách, bạn có tự hỏi, tại sao họ lại thành công như vậy không?

Đơn giản, vì người chủ của nhà hàng đó là một người nhạy bén, biết nắm bắt đúng nhu cầu của khách hàng một cách kịp thời, và nhanh chóng.

Nếu bạn cứ kiên trì rằng, chỉ có bạn mới biết thế nào là đẹp, là ngon, còn khách hang chỉ là thứ yếu, thì bạn cứ chuẩn bị ghi danh vào sách kỷ yếu thế giới “những nhà hàng thất bại nhanh nhất thế giới” là vừa.

  1. CỐ GẮNG LÀM HÀI LÒNG MỌI NGƯỜI

Phục vụ khách hàng giống như làm dâu trăm họ vậy. Mỗi khách hàng đều có sở thích, gu ăn uống, nêm nếm khác nhau.

Bạn không thể nào chiều hết ý của cả trăm khách hàng được. Vì thế bạn nên tập trung vào các món được cho là thế mạnh của nhà hàng, và phát triển nó lên, thay vì, cho ra một thực đơn cả trăm món, mà món nào cũng chỉ tầm thường.

  1. THIẾU SỰ CHUẨN BỊ CHO NGÀY KHAI TRƯƠNG

Đối với việc kinh doanh nhà hàng, ngày khai trương là một ngày rất quan trọng. Nó giúp cho bạn tạo được những ấn tượng đầu tiên đối với những khách hàng của bạn.

Để ngày khai trương được ấn tượng và chỉnh chu nhất, bạn nên mời bạn bè, người thân đến ăn thử trước, để thu thập ý kiến xem quán bạn còn có thiếu sót gì không?

Việc chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ giúp cho bạn tránh được những sự cố không muốn có trong ngày đầu khai trương.

  1. KHÔNG BIẾT MÌNH LÀ AI?

Một người chủ nhà hàng giỏi là một người kinh doanh có hiệu quả và khéo léo. Nhưng không ít các chủ nhà hàng lại có thói quen hay đi “hỗ trợ” nhân viên trong việc phục vụ, nấu nướng, dọn dẹp.

Thật ra, đấy là một thói quen tốt, giúp cho nhân viên và quản lý được gần gũi với nhau hơn. Tuy nhiên, nếu bạn cứ chú trọng vào những việc này nhiều quá mà sao lãng đi công việc chính của bạn thì thật là nguy hiểm.

Nên nhớ, việc chính của người chủ là khả năng kiểm soát dòng tiền, phân tích chi phí và lợi nhuận. Từ đó, đưa ra những quyết định tác động tích cực đến việc kinh doanh để sinh lợi nhuận, chứ không phải là “trợ viên.”

  1. KINH DOANH ĐA NGHÀNH NGHỀ

Dĩ nhiên, sự đa dạng trong kinh doanh sẽ giúp cho các doanh nghiệp của bạn nhanh chóng gia tăng lợi nhuận.

Nhưng điều đó, chỉ thích hợp khi doanh nghiệp của bạn đã phát triển đến một mức nhất định nào đó. Còn khi khởi nghiệp, sự lựa chọn kinh doanh đa nghành nghề dễ tạo ra nhiều áp lực từ nhiều đối thủ và đối tác.

Từ đó, dễ dẫn đến những đánh giá lệch lạc, hay quyết định sai lầm. Trong kinh doanh, chỉ cần một quyết định sai lầm cũng có thể trở thành tay trắng như chơi.

  1. SỢ THẤT BẠI

Nếu 11 nguyên nhân nêu trên, phần lớn đều do tác động ở “bên ngoài”, thì nguyên nhân thứ 12 “sợ thất bại” lại do tác động trực tiếp ở “bên trong,” thuộc về tâm lý.

Sợ thất bại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc, đưa đến thất bại trong doanh nghiệp của các doanh nhân một cách nhanh chóng và “tàn bạo” hơn.

Vì sao? Vì khi doanh nhân sợ điều gì, thì doanh nhân đó hay co cụm lại. Mà khi co cụm lại thì luôn mang cảm giác gò bó.

Khi mang cảm giác gò bó thì dễ nẩy sinh bực bội, nóng nẩy. Khi bực bội, nóng nẩy thì hay quyết định vội vàng, thiếu suy xét. Thiếu suy xét cặn kẽ thì dễ dẫn đến sai lầm… và sai lầm liên tục thì dẫn đến thất bại nhanh chóng.

Thế nên, thất bại trong doanh nghiệp đâu phải là do thần thánh hay định mệnh nào trừng phạt các doanh nhân, mà đó là do họ lựa chọn hay mong muốn đấy chứ.

Thất bại thì như thế, còn thành công thì sao? Sau đây là 3 gương thành công mà bạn có thể tham khảo.

BA GƯƠNG THÀNH CÔNG

1-McDONALD’S

 Thật khó có thể tưởng tượng, một đế chế thức ăn nhanh đã phát triển như thế nào, kể từ khi, McDonald’s còn là một cửa hàng bán bánh hamburger tầm thường ở California. Chắc hẳn, McDonald’s đã có một công thức thành công cho riêng mình. Vậy công thức đó là gì?

NHẮM VÀO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG

Vào năm 1940, hai anh em Mac và Dick McDonald đã mở một nhà hàng Barbecue để kinh doanh, nhưng không đạt được triển vọng. 8 năm sau (1948), niềm đam mê trong kinh doanh về nhà hàng vẫn luôn thôi thúc, Mac và Dick quyết định chuyển hướng sang kinh doanh Hamburger, và sử dụng công nghệ dây chuyền đơn giản để làm bánh. Sự định hướng “kỳ hoặc” này, đã giúp cho Mac và Dick khởi đầu một đế chế McDonald’s thống trị nghành thức ăn nhanh sau này.

Khoảng thập niên 50, sản xuất dây chuyền là một cái gì đó gắn liền với sản xuất ô tô hơn là với thực phẩm. Nhưng Mac và Dick đã chọn cách sản xuất Hamburger theo cách này, vì họ nhận ra rằng, khách hàng ăn bánh thường bị hạn hẹp về thời gian và tiền bạc.

Mong ước của các khách hàng là muốn có một loại thức ăn không cần phải cao lương mỹ vị, nhưng phải hợp với túi tiền, và họ chỉ cần phải mất một vài phút để có được một phần ăn.

 Nắm được “chỗ yếu tâm lý của khách hàng”, hai anh em nhà McDonald’s đã khai thác ý niệm về chiếc Hamburger với giá 15 xu, và họ đã bắt đầu hoạt động kinh doanh nhà hàng McDonald’s theo dạng này.

Về cơ bản, họ đã phân tích ra toàn bộ tiến trình chuẩn bị, chế biến, và rất nhiều công đoạn đã được loại bỏ, để toàn bộ tiến trình có thể trở nên đơn giản nhất.

Kết quả là, vào năm 1954, hai anh em nhà McDonald’s đã có cho mình một nhà hàng drive-in (loại nhà hàng cho phép khách hàng mua thức ăn mà không cần phải rời khỏi xe của mình), chuyên phục vụ Hamburger tại San Bernardino.

Nhà hàng này, lúc nào cũng có một hàng dài khách đợi bên ngoài, và đạt được doanh thu cao ngất ngưởng. Khách tiêu thụ thì rất hài lòng về quá trình phục vụ thức ăn được diễn ra nhanh gọn, cả về chất lượng thức ăn, lẫn hợp túi tiền.

Chiến Lược Nhượng Quyền Thương Mại Đầy Ngạo Mạn

Thành công của anh em nhà McDonald’s đã thu hút sự chú ý của Ray Kroc, một doanh nhân đầy tiềm năng đến từ Illinois, người liên tục săn đuổi những công ty có triển vọng nhất để đầu tư. Ray Kroc đã có những ý tưởng kinh doanh “cực kỳ lợi hại.”

 Ở thời điểm đó, ông đã nhìn ra viễn cảnh tương lai của McDonald’s. Ông tin rằng, sẽ có hàng trăm những cửa hàng Mcdonald’s được mở ra, rồi McDonald’s sẽ thâu tóm toàn bộ đất Mỹ trong tương lai.

Vì thế, Kroc bắt đầu liên lạc với hai anh em nhà McDonald’s, với ý tưởng nhượng quyền kinh doanh (franchise) cho những doanh nhân khác. Những doanh nhân này, sẽ tiến hành những bước đi gian nan, như: gây vốn, xây dựng nhà hàng, thuê nhân công, và quản lý hoạt động kinh doanh.

Điều duy nhất mà McDonald’s cần phải làm, đó là bảo đảm những nhà hàng vệ tinh (franchisee) có thể xây dựng thương hiệu một cách tốt nhất. Rồi sau đó, McDonald’s chỉ cần “hốt tiền bản quyền” từ những nhà hàng được nhượng quyền đó.

Hai anh em nhà McDonald’s đã đồng ý với kế hoạch của Kroc, và thế là, Kroc bắt đầu ý tưởng của mình. Kroc và hai anh em McDonald’s đã bắt tay vào sửa đổi lại mô hình nhượng quyền kinh doanh (franchise) để bổ sung thêm nhiều nguồn lợi nhuận.

Tập đoàn McDonald’s, cuối cùng, cũng thu được 1% doanh thu thuần, và trong nhiều vụ đã trở thành người sở hữu chính của hoạt động nhượng quyền thương mại.

Một bước tiến xuất sắc khác mà McDonald’s đã bổ sung vào mô hình nhượng quyền, đó là, cho thuê nhà đất. (McDonald sẽ mua những mảnh đất, mà một nhà hàng được nhượng quyền theo kế hoạch được xây dựng tại đó.) Sau đó, họ sẽ cho người chủ nhà hàng nhượng quyền thuê mảnh đất đó (tiền thuê hàng tháng được tính dựa trên doanh thu).

Hoạt động cho thuê nhà đất này, mang lại lợi nhuận khá khẩm, đến nỗi, một công ty riêng (Franchise Realty Corporation) đã được thành lập, chỉ để phục vụ cho việc quản lý các hoạt động của người chủ McDonald’s.

5 năm sau (1959), McDonald’s quyết định xây dựng và điều hành một vài chi nhánh riêng. Họ khai trương những chi nhánh này trong mối liên hệ với những hãng bảo hiểm, mà đã cho anh em McDonald’s vay 1,5 triệu đô la Mỹ để đổi lấy một phần trăm (1%) cổ phần của công ty. Điều này, đã thúc đẩy sự mở rộng nhanh chóng các chi nhánh của McDonald’s trên toàn nước Mỹ vào những năm 60.

Sự phát triển đầy “ngạo mạn” của McDonald’s đã hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng năng lượng kìm hãm nền kinh tế Mỹ, vào những năm 70. Khi đã về hưu, Kroc vẫn kinh doanh rất năng nổ, và ông coi cơn khủng hoảng như một cơ hội trong việc chi tiêu (vì khi đó giá cả đang đi xuống). Cũng vào thời điểm đó, Kroc và McDonald’s, thậm chí còn bắt đầu phi vụ nhượng quyền ở những nước khác.

22 năm sau, vào những năm 80, đế chế McDonald có khoảng 8,000 chi nhánh và có mặt ở 32 quốc gia trên toàn thế giới. Năm 2008, doanh thu thực tế của McDonald’s đạt tới hơn 70 tỷ đô la, và đạt 21 tỷ lượt khách. Như vậy, có thể tính, mỗi một người trên thế giới đã mua một thứ gì đó từ McDonald’s ít nhất 3 lần trong năm 2008.

ĐIỀU HÀNH CÓ HỆ THỐNG

Điều gì khiến McDonald’s giữ chân được khách hàng? Bí mật nằm trong công thức đồng bộ hóa mọi thứ của McDonald’s.

Khi Kroc lần đầu tiếp cận McDonald’s với ý tưởng của mình, chi nhánh thử nghiệm đầu tiên được ông sử dụng chính là chi nhánh của chính mình. Kroc lấy phong cách sản xuất đồ ăn theo dạng dây chuyền của anh em nhà McDonald’s, rồi mở rộng ý tưởng hệ thống hóa mọi thứ.

Mọi thứ cần phải được xác định rõ ràng và thực hiện trong cùng một cách thức. Cùng nguồn cung cấp thức ăn, cùng những thủ tục chuẩn bị, và cùng một hệ thống bố trí nhà bếp, đều phải được đặt đúng chỗ.

Tất cả những cơ chế tiết kiệm thời gian và hoạt động, từ việc nhận đặt thức ăn, chế biến, đóng gói, và giao sản phẩm đến khách hàng, đều phải như nhau. Ngay cả hoạt động tiếp thị sản phẩm và xây dựng thương hiệu, cũng phải được thực hiện như nhau.

Nhờ có sự chú tâm vào từng chi tiết của Kroc, chi nhánh MacDonald đầu tiên của ông ở Illinois đã đạt được lợi nhuận ngay trong ngày đầu tiên khi mở cửa kinh doanh. Với thành công trong tay, Kroc bắt đầu có hàng loạt những chi nhánh tiếp theo của McDonald mà có cùng một hệ thống vận hành.

67 năm sau (2021), những hình vòm màu vàng trứ danh đã xuất hiện trong mọi ngõ ngách trên địa cầu, nhờ vào công thức thành công “khủng” của McDonald, “Hệ thống hóa đồng bộ”. Cho đến bây giờ, vẫn chưa có bất kỳ một dấu hiệu nào cho thấy sự sụp đổ của đế chế khét tiếng này. Ngoài việc, mỗi một năm họ lại có thêm 1,500 đến 1,600 chi nhánh mới khai trương trên toàn thế giới.

2-JOE‘S REDHOTS

Công ty dịch vụ thức ăn nhanh của Joe’s, thành lập năm 1997, tại Illinois. Joe‘s Redhots là một công ty kinh doanh nhỏ, chuyên cung cấp thức ăn nhanh, chất lượng cao, bằng xe bán hàng (catering) của công ty, đến hàng loạt các trung tâm, văn phòng, công ty làm việc ở vùng đô thị.

Khởi đầu từ một chiếc xe hàng nhỏ chuyên bán những loại xúc xích có chất lượng cao, và các thức ăn trưa chế biến sẵn, nhằm phục vụ các doanh nhân, công nhân, tại các khu đô thị giao thông đông đúc.

Khác với những chiếc xe bán thức ăn rong trên đưòng phố, Joe’s Redhots được xem là “nơi lý tưởng nhất để ăn trưa nhanh.”

Có được như vậy, bởi vì, Joe’s Redhots là xe bán thức ăn sạch sẽ nhất, người phục vụ vệ sinh nhất, thức ăn tươi nguyên chất nhất, và cuối cùng là giá cả hợp lý nhất.

Nơi nào có mặt của Joe’s là nơi đó có đầy những lời khen thưởng. Cứ thế mà số lượng khách gia tăng ngày một nhiều. Đâu đó, đã nổi lên những tiếng than phiền là Joe’s không đến kịp nơi của họ để cung cấp cho họ những món ăn: vừa ngon, lại vừa rẻ.

Lắng nghe những lời than phiền đó, Joe’s đã lên kế hoạch, và quyết định vay 1 triệu USD từ ba ngân hàng, để mở rộng chiến lược tiếp thị và phân phối hàng vào trung tâm thương mại Chicago, bằng cách, mua thêm sáu chiếc xe bán hàng khác. Tỷ suất lợi nhuận đầu tư ròng trong 3 năm, dự tính là 243% cho 1 triệu USD đầu tư, sau khi đã hoàn vốn.

 Ước tính doanh thu của Joe’s Redhots năm 2000 lên tới 3 triệu USD, lãi ròng là $212.500 (7,1% doanh thu). Doanh thu dự kiến sẽ đạt 12 triệu USD, với lãi ròng là 1.280.100 USD (10,7%), vào cuối năm 2002.

Công ty Joe’s đã có sáu hợp đồng, và có thể có thêm 24 hợp đồng nữa từ các toà nhà văn phòng ở đại lộ Michigan, và một vài nơi khác ở Chicago để cung cấp dịch thức ăn quanh năm.

Khu vực đông đúc này, đem lại doanh thu trung bình hàng năm, tính theo mỗi đầu xe hàng là 300.000 USD (nghĩa là bán được 1.000 lần mỗi tuần và mỗi lần bán trung bình là $6.00).

Từ một xe bán hàng vào năm 1997, Công ty Joe’s tăng doanh thu hàng năm là 1,8 triệu USD trong ba năm, với lãi ròng là 128.900 USD (7,2%). 

Mỗi chiếc xe chở thức ăn đều mang một khẩu hiệu “Joe’s Redhots – Làm bạn hài lòng chỉ với giá $2.00! Bạn xứng đáng được thưởng thức nó!”

Bức thông điệp đó, nhằm vào những khách hàng đi đường muốn thưởng thức một xúc xích với giá rẻ.

Đó cũng là một thông điệp mời chào người ta “tự buông thả” một chút, vì phần lớn xúc xích đều có hàm lượng chất béo cao.

Kiểu chào hàng độc đáo này cũng nhắm chính vào đấy. Bởi vì, khi khách hàng thích ăn xúc xích, và cảm thấy họ xứng đáng được thưởng thức với giá rẻ, họ sẽ thấy rằng, bức thông điệp này hết sức có ý nghĩa với họ.

Ý nghĩa chính của bức thông điệp độc đáo này là: “giá rẻ + sự thích thú.”

Ưu điểm chính, và cũng là “lá ách chủ bài” của Joe’s, đó là, xúc xích của Joe’s Redhots không có hàm lượng chất béo cao, có chất lượng cao, tất cả đều nguyên chất, không có chất bảo quản, và các chất hoá học có hại.

Những nhân viên bán dạo trên đường phố của Joe’s Redhots, đều tuyên truyền cho khách hàng của họ thấy rằng, thưởng thức xúc xích vừa rẻ, lại vừa có lợi cho sức khỏe.

Mặc dù là lời chào hàng nhằm vào sản phẩm xúc xích, nhưng mỗi xe hàng chở thức ăn của Joe’s cũng có rất nhiều món ăn khác có lợi cho sức khoẻ và giá cả lại hợp lý.

CHIẾN LƯỢC TIẾP THỊ

Joe’s Redhots được hình thành và có được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực dịch vụ thức ăn lưu động tại những trung tâm thương mại lớn ở đô thị, đó là nhờ Joe biết nhắm vào các đối tượng từ các nhân viên công sở, những người muốn ăn bữa sáng hay bữa trưa nhanh, thuận tiện và linh hoạt.

Joe’s tạo được sự khác biệt và định vị khác hẳn so với các đối thủ cạnh tranh như: các cửa hàng thức ăn nhanh, hay các cửa hiệu bán thức ăn sẵn mang về, đó là:

  • Sản phẩm của công ty cung cấp độ dinh dưỡng cao, 100% nguyên chất, không có chất nhân tạo, phẩm màu, chất phụ gia hay chất bảo quản; đồ ăn và khẩu phần hết sức tiện lợi
  • Sự quan tâm của công ty đến môi trường sinh thái (thùng chứa hàng và giấy gói đều làm bằng chất dễ phân huỷ, có thể tái chế, và đồng thời, công ty có mối quan hệ chặt chẽ với công chúng)
  • Dịch vụ của công ty bảo đảm với khách hàng, có thể trả lại hàng, đối với tất cả những sản phẩm bán ra mà không cần giải thích, và những nhân viên phục vụ của công ty là những người được đào tạo tốt nhất

Thực phẩm của Joe’s Redhots có giá cả bằng, hoặc cao hơn một chút so với mức giá của các hãng cạnh tranh khác, nhưng khách hàng không thể phân biệt được liệu thức ăn của các hang khác đó, có nguyên chất hay không.

Các hoạt động xúc tiến bán hàng bao gồm: tặng hàng mẫu miễn phí, và một số mặt hàng đặc biệt hàng ngày cho khách hàng. Nhờ đó, giúp khách hàng hiểu rằng, họ đang nhận được những sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ nhanh chóng, lịch sự, tương xứng với đồng tiền họ bỏ ra.

Joe’s Redhots đã thành công trong việc ký hợp đồng với các công ty quản lý cho thuê bất động sản, để thuê địa điểm bán hàng lâu dài, trong và ngoài trụ sở chính của các toà nhà thương mại. Đồng thời, hợp tác bán thức uống, và các thức ăn thứ yếu, với các cửa hàng trên đường phố. Tất cả các hợp đồng thuê bất động sản, giúp cho Joe’s có nơi chốn an tâm để các xe bán hàng trong các toà nhà.

Nhằm khuyến khích sự trung thành của khách hàng với sản phẩm của mình, Joe’s Redhots luôn phát triển và tăng cường cung cấp những thực đơn mới, và quay vòng cho phù hợp theo mùa vào mỗi quý.

Đồng thời, cho khách hàng ăn thử, và tặng những phần quà đặc biệt hàng ngày. Việc đào tạo nhân viên, bao gồm: chương trình tuyển dụng, “những người có tính cách dễ thân thiện”, tối thiểu là sáu giờ đào tạo tại công ty, tham khảo ý kiến những người có kinh nghiệm và thực tập công việc.

TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VÀ BÁN HÀNG

Đem so sánh với những hiệu ăn và hệ thống xe bán thức ăn lưu động khác, công ty Joe’s Redhots có một lợi thế hết sức đặc biệt:

  • Sự linh hoạt về địa điểm bán hàng, ngay trong văn phòng hay bên ngoài
  • Tính hiệu quả của quy mô tổ chức
  • Chi phí quản lý thấp hơn
  • Các thức ăn được chia thành khẩu phần và được gói sẵn, không cần đầu bếp
  • Chi phí hàng bán thấp, không cần phải nấu nướng và các đồ dùng kèm theo
  • Loại bỏ những nhân viên phải chờ đợi để phục vụ

Tất cả những điều đó. giúp cho Joe’s Redhots tiết kiệm được khoản 50% tổng chi phí cho hàng hoá và dịch vụ dự tính, so với những nhà hàng thông thường khác có mức giá tương tự.

3-PANDA EXPRESS

Nói đến thức ăn Trung Hoa, không ai còn lạ lẫm gì với hình thể con gấu trúc Panda Express, trong những năm vừa qua.

Panda Express trực thuộc công ty mẹ là Panda Restaurant Group, được thành lập bởi vợ chồng Andrew & Peggy Cherng, và cha của Andrew là đầu bếp Ming Tsai Cherng.

Quê hương xứ sở của ông Ming ở khu vực Dương Châu, thuộc tỉnh Giang Tô của Trung Quốc. Năm 1973, Ming và con trai ông là Andrew đã bắt đầu mở nhà hàng Panda Inn đầu tiên của họ tại Pasadena, California.

Cũng như hầu hết các nhà hàng Tầu trên nước Mỹ, Andrew và cha ông, đầu bếp Ming, thành lập nhà hàng Panda Inn nhằm phục vụ các món ăn ngon nổi tiếng của Quan Thoại và Tứ Xuyên, trong một môi trường trang trí cao cấp, với bầu không khí giản dị, và món ăn ngon.

Họ nhanh chóng giành được một số khách hàng trung thành, với các món ăn ban đầu như: Trà hun khói vịt, tôm xào walnut với mật ong, và cơm lá sen.

Hơn 10 năm thành lập, Panda Inn cũng chỉ nằm trong dạng của một nhà hàng Tầu, như muôn ngàn nhà hàng Tầu khác trên nước Mỹ.

Năm 1983, Donahue Schriber, người quản lý bất động sản của Gendale Galleria (có lẽ là một thực khách quen thuộc của Panda Inn), đã mời Andrew và Ming vào Gendale Galleria để phát triển một phiên bản thức ăn nhanh của Panda Inn trong khu thực phẩm của Glendale Galleria.

Từ đó, đã cung cấp những ý tưởng và tạo bàn đạp, cũng như, nguồn cảm hứng cho sự ra mắt của Panda Express vào năm 1983, hoàn thành tầm nhìn phát triển thức ăn nhanh, và phát triển rộng khắp xứ cờ Hoa như ngày nay.

Panda Express đầu tiên được hình thành tại Glendale Galleria, CA.

Trong năm 2008, Panda Restaurant Group có doanh thu hàng năm trên 1.7 tỷ USD, có hơn 13.000 nhân viên, và có sự tăng trưởng liên tục trong vòng 13 năm liên tiếp.

Vị trí doanh thu cao nhất của Panda Express mang về hơn 4 triệu USD mỗi năm, được đặt tại trung tâm tòa án thực phẩm Ala Moana, tại Honolulu, Hawaii.

30 năm sau, 2013, Panda Express đã có hơn 1.600  địa điểm, và là chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh của Trung Hoa lớn nhất tại Hoa Kỳ.

Mặc dù có hơn 1,600 địa điểm trên toàn nước Mỹ, nhưng Panda Express lại không chú trọng đến quyền nhượng chủ quyền kinh doanh (franchise) như McDonald’s, mà chỉ kêu gọi các chủ phố, hay những nhà đầu tư hợp tác kinh doanh.

NHỮNG BÀI HỌC TỪ GƯƠNG THÀNH CÔNG

1-MCDONALD’S

Chỉ trong vòng 67 năm, từ một nhà hàng bé nhỏ tầm thường chẳng ai biết đến, trong một xó xỉnh tại quận San Bernardino, hai anh em nhà họ McDonald’s đã khiến cho hơn 3.5 tỷ con người trên thế giới biết đến thương hiệu của họ, quả thật, đây là một điều đáng cho chúng ta học hỏi.

Mac và Dick McDonald’s đâu là phải những “thiên tài” về kinh doanh, mà ở họ, chỉ có hai yếu tố quan trọng nhất giúp cho họ thành công cho đến bây giờ, đó là: niềm đam mê và chịu khó học hỏi.

Sự thật đã chứng minh, họ đâu phải chỉ có thành công không đâu, mà họ cũng có thất bại đấy chứ. Căn nhà hàng Barbecue của họ mở năm 1940, chẳng phải là một bằng chứng sống hay sao? Tuy thất bại, nhưng họ chẳng hề nản lòng. Họ vẫn tiếp tục đam mê, họ vẫn kiên trì học hỏi, và họ vẫn luôn cố gắng tìm tòi và sáng tạo.

Đọc lại tiểu sử của đế chế McDonald’s, chúng ta thấy, họ đã phải mất đến 8 năm ròng rã (1948) mới tìm ra được một định hướng. Có được định hướng đúng đắn, cộng thêm nắm bắt được đúng tâm lý khách hàng rồi, họ mới bắt đầu phát triển.

Lại phải thêm 6 năm nữa (1954), họ mới định hình được thương hiệu McDonald’s, và phát triển thành công cho đến ngày nay. Tổng cộng trong 14 năm của họ chỉ thâu gọn trong 3 điều:

  1. Có một định hướng rõ ràng
  2. Biết được tâm lý khách hàng
  3. Đơn giản tối đa và hệ thống hóa toàn bộ

Từ đó cho đến nay, tuy đế chế McDonald’s có những thay đổi cho thích hợp với thị trường, nhưng họ vẫn luôn dựa trên ba nền tảng căn bản nêu trên làm phương châm cho sự phát triển.

Nếu bạn muốn thành công trong lĩnh vực kinh doanh, và cũng muốn biến thương hiệu nhà hàng của bạn thành một đế chế như McDonald’s, thì 3 trụ cột đó, không thể nào thiếu được trong mục đích cũng như kế hoạch của bạn.

2-JOE ‘S REDHOTS

Tuy sinh sau đẻ muộn, cũng không chú trọng đến phát triển kinh doanh của mình theo dạng cửa tiệm, và cũng không phải là ông trùm trong nghành thức ăn nhanh, nhưng Joe‘s cũng có những ưu điểm đáng quý, mà bạn cũng có thể học hỏi.

Nếu anh em McDonald’s chỉ dựa vào 2 yếu tố “tiết kiệm thời gian và tiền bạc” để “nắm chân” khách hàng, thì ngoài 2 điều đó ra, Joe‘s lại còn thêm vào công ty của anh là: thái độ phục vụ và phẩm chất tốt để đánh bại các đối thủ trong cùng nghành.

Phương pháp của Joe‘s đánh đúng được tâm lý của khách hàng hiện đại, họ đang lo sợ về những độc tố từ những sản phẩm hóa chất trong thức ăn. Từ đó, Joe‘s tạo được sự tin tưởng của khách hàng.

Thêm vào đó, chính sách sử dụng 5% đến 10% tiền lãi dùng cho tiếp thị đúng cách đã khiến cho thương hiệu của Joe’s Redhots ngày càng nổi bật. Bài học từ Joe‘s Redhots đó là:

  1. Biết lắng nghe và thoả mãn mong muốn của khách hàng
  2. Biết đầu tư tạo dựng thương hiệu bằng tiếp thị
  3. Biết thích nghi và thích ứng môi trường
  4. Biết quản lý tài chánh và đào tạo nhân viên đúng cách
  5. Có kế hoạch và định hướng phát triển rõ ràng
  6. Thiết lập hệ thống và tiếp tục học hỏi kiện toàn

3-PANDA EXPRESS

Trong 3 lựa chọn gương thành công, có 2 gương thành công thuộc về Mỹ, và gương thành công thứ ba, thuộc về Á Châu, tiêu biểu là nhà hàng Panda Express của người Trung Hoa.

Nước Trung Hoa, cũng là một nước có một nền ẩm thực khá độc đáo, được dựng lên bởi năm sắc dân chính, gồm: Hán, Mãn, Tạng, Mông, Hồi.

Với dân số hơn 1,4 tỷ, người Trung Hoa vẫn luôn coi mình “là cái rốn của các nước” (Trung Quốc), và luôn tự hào rằng, quốc gia của họ là cái nôi của văn hóa Á châu.

Có hai bộ kinh được xem là sách gối đầu giường cho các nhà y học, triết học, khoa học và quân sự trên thế giới. Đó là bộ kinh Dịch – Âm Dương Ngũ Hành, và bộ Tôn Tử Binh Pháp.

Hầu như, tất cả những gì liên quan đến văn hóa ẩm thực của Trung Hoa, đều “dính” đến tính chất Âm Dương và Ngũ Hành.

Cho nên, khi Andrew và cha mình là đầu Bếp Ming (Minh) mở nhà hàng Panda Inn đầu tiên, năm 1973, tại Pasadena, California, ông đầu bếp Ming cũng không quên mang theo “văn hóa ẩm thực Âm Dương” đóng góp vào nền văn hóa ẩm Thực của Hoa Kỳ. 

Trên nguyên tắc, nguyên lý của Âm Dương là nguyên lý cân bằng giữa hai lực lượng đối lập. Có lẽ, ông Andrew có bằng thạc sĩ về Toán học, và vợ của ông, bà Peggy cũng có bằng tiến sĩ về Toán.

Cả hai ông bà, đều là những người khoa bảng tốt nghiệp tại Mỹ, và lại là chuyên gia về “tính toán”, nhưng “không chuyên” về nguyên lý Âm Dương. Vì thế, họ cứ “loay hoay” không biết tính toán ra sao để phát triển nhà hàng Panda Inn thành một đế chế.

Mãi đến 10 năm sau (1983), khi gặp được Donahue thì đế chế Panda Express mới bắt đầu hình thành và phát triển cho tới ngày nay.

Trải qua 30 năm hình thành và phát triển, Panda Express chỉ có hơn 1600 tiệm, loanh quanh trong nước Mỹ. Trong khi, chỉ với 28 năm (1954-1982), McDonald’s đã có hơn 7,000 tiệm (gấp 4 lần Panda Express), và đã lan rộng ra hơn 32 quốc gia.

Cũng đều phát triển về dịch vụ bán thức ăn nhanh, nhưng tại sao Mcdonald’s lại có thể phát triển nhanh gấp 4 lần Panda Express?

Nguyên do đơn giản, McDonald’s đã biết sử dụng phương pháp nhượng quyền kinh doanh (franchise), mua bán và cho thuê bất động sản.

Mc Donald’s đã sớm biết, mượn “vốn” của các nhà đầu tư để tiếp tục xây dựng đế chế của mình. Ngược lại, Panda Express chỉ chú trọng đến “hợp tác” đầu tư, và cũng không chú trọng đến quá trình mua, bán, cho thuê bất động sản như McDonald’s. Vậy thì Panda Express sẽ dậy cho chúng ta bài học gì?

  1. Chớ nên kinh doanh nghành ẩm thực phục vụ, mà nên kinh doanh theo dạng thức ăn nhanh. Cả Panda Express và anh em McDonal’s đều chứng minh sự khó phát triển của nghành ẩm thực phục vụ (Panda Inn trong 10 năm cũng chỉ có 1 tiệm, và Mc donald’s với nhà hàng Barbecue trong 8 năm cũng chỉ có 1 tiệm, cuối cùng cả hai đành bỏ cuộc kinh doanh nhà hàng phục vụ)
  2. Khi kinh doanh nghành ẩm thực bán thức ăn nhanh nên đầu tư vào bất động sản
  3. Nên dùng hình thức nhượng quyền kinh doanh hơn hợp tác đầu tư
  4. Phải phát triển nhà hàng nhanh theo một hệ thống hoá đồng bộ
  5. Biết lắng nghe và bắt được tâm lý khách hàng
  6. Luôn tiếp thị đúng cách, thích ứng và hợp thời

Từ những bài học của 3 gương thành công nêu trên, nếu bạn muốn “chen chân” với họ, thì bạn phải làm gì?

Muốn biết bạn phải làm gì, trước tiên, mời bạn nên tìm hiểu chút ít về nền văn hóa ẩm thực đặc sắc của Việt Nam trước đã.

VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM

Nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam được bắt nguồn từ chính dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước.

Bất cứ ở miền nào, cho dù là hội hè, đình đám, hay tiệc tùng gì thì trong thực đơn của người Việt cũng không thể thiếu hạt cơm.

Tục ngữ xưa có câu: “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Ðói thì thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường”.

Chính nền văn hóa nông nghiệp đã chi phối cơ cấu bữa ăn thiên về thực vật của người Việt. Bởi thế, trong bữa cơm của người Việt, người ta có thể thiếu thịt, thiếu cá, nhưng họ không thể thiếu rau, thiếu quả, bởi: “Ăn cơm không rau như nhà giầu chết không kèn trống”.

Mâm cơm của người Việt, nếu chỉ có một món thì khó được gọi là một mâm cơm. Và nếu chỉ có một người ngồi ăn thì cũng khó cảm nhận hết cái ngon của từng món.

Chính vì có tính tổng hợp và tính cộng đồng này đã tạo nên nét đẹp độc đáo nhất trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam.

Nếu như người phương Tây thưởng thức theo kiểu phân tích, ăn hết món này, rồi mới dọn ra món khác, thì mâm cơm của người Việt, bao giờ cũng phóng khoáng với tất cả các món được dọn lên cùng một lúc: nào cơm, nào rau, nào thịt, nào cá, thêm bát nước chấm con con.

Có thể nói, mỗi món ăn của người Việt Nam đã hội tụ đủ phương thức tổng hợp khi chế biến: hết luộc lại xào, lại ninh, tần, hấp, v.v, sao cho hài hòa, các yếu tố Nóng – Lạnh, Âm – Dương.

Ngồi trước mâm cơm, người Việt có thể chọn, cùng một lúc ăn các món ăn theo sở thích; hay các giác quan, cũng được cùng một lúc cảm nhận các món ăn kết hợp hài hoà: Mũi có thể ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt, mắt có thể nhìn thấy mầu sắc tươi rói, lưỡi có thể nếm được những hương vị đặc trưng.

Chính vì thế, suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp. Mỗi bát cơm, mỗi miếng cơm là thành quả của cả quá trình tổng hợp đó.

Dù có đi gần, đi xa, ai cũng vẫn cố gắng thu xếp trở về nhà để xum họp cùng gia đình bên mâm cơm tối. Dù có đi muộn, về trễ, những người trong nhà cũng vẫn chờ đợi để có đủ mặt thành viên rồi mới dùng cơm.

Bất cứ buổi tiệc tùng, họp mặt nào, cũng không thể diễn ra mà chỉ có một người. Ðó là vì, trong văn hóa ẩm thực, người Việt luôn coi trọng tính cộng đồng.

Nếu như người phương Tây mỗi người dùng riêng một đĩa, một suất, thì người Việt Nam phải quây quần quanh mâm cơm mới ăn ngon miệng.

Với người Việt, thời điểm ăn là để mọi người cùng thực hiện văn hóa giao tiếp, cùng gặp mặt, trò chuyện, nắm bắt thông tin về cuộc sống của nhau.

Và không gian ăn, chính là nơi để gắn kết chặt chẽ những mối quan hệ giữa người với người trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Vì thế, các món ăn trên mâm, có thể, người này ăn món này, người kia chọn món kia, tùy theo sở thích. Nhưng nồi cơm và bát nước chấm thì lại là món ăn cộng đồng mà những người ngồi quanh mâm ai cũng dùng chung.

Và đôi đũa, vật dụng độc đáo không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt. Vì sao? Vì đôi đũa chính là phương tiện linh hoạt nhất để nối dài cánh tay, giúp cho người quanh mâm, dù ngồi xa, ngồi vướng đến mấy, cũng vẫn gắp chung được thức ăn trên mâm như những người khác.

Thế nên, nói đến văn hóa ẩm thực Việt Nam là nói đến văn hóa của sự gắn kết, cộng đồng. Biểu hiện rõ nét nhất chính là phong cách kết hợp hài hòa, trung dung trong từng món ăn, thức uống. Mỗi một món ăn là một sự kết hợp Âm Dương thật tuyệt vời.

NHỮNG MÓN ĂN CỦA VIỆT NAM

Mặc dù, người Trung Hoa luôn coi mình là “chủ nhân” của bộ Kinh Dịch (Iching) Âm Dương-Ngũ  Hành lừng lẫy trên thế giới.

Nhưng càng ngày, càng có những chứng cớ rõ nét là bộ Kinh Dịch, học thuyết Âm Dương-Ngũ Hành lại là của dân tộc Việt Nam, mà các “chủ nhân” Trung Hoa, trong quá khứ, đã từng qua đô hộ và “chôm chỉa” mang về. 

Có lẽ, vì đã thông kinh Dịch, và biết được vận mạng của nước Việt phải gánh chịu “kiếp nạn”, mà tổ tiên của người Việt đã khôn khéo chia bộ kinh Dịch và Âm Dương-Ngũ Hành ra làm ba phần khác nhau; và chỉ giao cho các “chủ nhân” phần đầu và phần cuối, còn phần giữa thì đem dậy lại cho con cháu, qua phương pháp khẩu truyền, đậm nét nhất, vẫn tiềm tàng trong ca dao và tục ngữ của Việt Nam.

Chính vì vậy, mà Kinh Dịch và học thuyết Âm Dương-Ngũ hành của người Trung Hoa, thiếu một hệ thống lý luận hoàn chỉnh.

Ai có dịp nghiên cứu về kinh Dịch và học thuyết Âm Dương-Ngũ Hành của người Trung Hoa thì luôn rơi vào những lý luận mâu thuẫn, nghịch lý đến tức cười.

Vậy, kinh Dịch, học thuyết Âm Dương-Ngũ Hành có phải là của Việt Nam hay không thì xin dành lại cho các nhà nghiên cứu, khảo cổ Việt Nam đi minh chứng.

Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, nếu học thuyết Âm Dương-Ngũ Hành thuộc về người Trung Hoa, và họ luôn tự hào về sự ứng dụng Âm Dương-Ngũ Hành trong Ẩm Thực của họ, thì chắc chắc, món ăn của họ phải đạt đến chỗ “quân bình Âm Dương.”

Nhưng trên thực tế, tất cả các món ăn của Trung Hoa, phần lớn lại mang đầy tính chất “thiếu quân bình”.

Thí dụ như món Vịt Bắc Kinh chẳng hạn. Theo đông y, Vịt  mang tính “hàn.” Muốn giải hàn, hay “quân bình Âm Dương” thì phải có một món mang tính “nhiệt” ăn kèm theo.

Nhưng trên thực tế, món Vịt Bắc Kinh lại chẳng có món “nhiệt” nào ăn kèm theo cả. Ngược lại, nước chấm bằng tương ngọt lại mang tính “hàn.” Đã hàn lại cộng thêm hàn, như vậy làm sao có thể làm “cha đẻ” ra học thuyết Âm Dương cho được.

Còn Việt Nam ăn món Vịt ra sao? Đơn giản là dùng nước mắm gừng. Độ mặn của nước mắm mang tính chất cực Nhiệt (Dương), nên cần phải thêm chút gừng thuộc Hàn (Âm), cộng với độ Hàn (Âm) của thịt Vịt, tạo thành thế quân bình âm dương.

Ngoài sự quân bình hài hoà, gừng lại mang tính chất giải độc, và làm ấm bao tử. Như vậy, so với thuyết Âm Dương, thì món thịt Vịt chấm nước mắm gừng, còn cao hơn một bước, nghĩa là, không phải chỉ biết quân bình Âm Dương không mà thôi, mà còn biết dùng thêm gừng, để giải được cả độc của thịt vịt. (Độc như thịt vịt)

Nhìn vào món ăn của Việt Nam, chúng ta luôn luôn thấy, có một sự kết hợp hài hoà Âm Dương đến mức độ lạ lùng.

Hễ cứ một món có thịt (dương), thì phải ăn kèm theo một món rau hoặc gia vị (âm) nào đó kèm theo. Điển hình nhất là câu ca dao ngộ nghỉnh như sau:

Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua cho tôi đồng giềng

Mới đọc sơ qua, xem ra chỉ là những câu hát ngô nghê của trẻ nhỏ. Nhưng nếu để ý kỹ hơn, rõ ràng, đây là cả một nghệ thuật nấu nướng theo “quân bình âm dương” thật rõ nét.

Luộc thịt gà và ăn gà (dương), mà muốn cho ngon thì phải cho lá chanh (âm) vào nấu, và phải chấm với muối (dương) cộng thêm tiêu chanh (âm) thì mới tuyệt.

Ngược lại, nhắm một miếng dồi chó (cực dương), mà không có củ giềng và lá mơ (cực âm) thì chỉ có chẩy máu cam, muốn cầm cũng khó.

Tuy chưa hề học về học thuyết âm dương, và cũng không cần biết về Âm Dương, nhưng những nhà đầu bếp Việt Nam, lại là “vua” về sự quân bình Âm Dương, trong nghệ thuật ẩm thực.

Bịnh tật của con người, theo học thuyết Âm Dương, chỉ là do mất quân bình giữa Âm và Dương mà ra. Khi Âm Dương quân bình thì đó là lúc con người khỏe nhất.

Theo thống kê mới nhất của Viện Phát triển Hải Ngoại Anh (ODI), thì nhân loại ngày nay đang vấp phải một “dịch bịnh” nghiêm trọng, đó là: “dịch béo phì và thừa cân”.

Số lượng người béo phì ở các nước đang phát triển đã vượt qua ngưỡng 900 triệu người, thậm chí, đã vượt mặt các nước phát triển, nơi xuất phát của các thương hiệu đồ ăn nhanh nổi tiếng trên thế giới.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc, các nước này đang phải gánh chịu khoản chi phí y tế cực kỳ lớn, cho các bệnh đau tim, tiểu đường, béo phì, do lạm dụng thức ăn nhanh dưới sự phát triển của nhịp sống gấp gáp như hiện đại.

Nghiên cứu còn chỉ ra, một phần ba dân số trưởng thành trên thế giới (tức khoảng 1,45 tỷ người), bị bệnh béo phì hoặc thừa cân.

Nguyên nhân được cho là do sự thay đổi trong chế độ ăn uống ở các nước đang phát triển. Người tiêu dùng đang chuyển từ chế độ ăn ngũ cốc, và củ quả, sang một lượng lớn các thức ăn giàu chất béo, muối và đường.

Kết hợp với việc lười vận động đã làm bùng nổ dân số béo phì. Không những vậy, trách nhiệm của chính phủ bị buông lỏng, cũng được xem là một trong những nguyên nhân lớn nhất để xảy ra tình trạng này.

ODI nhận định, các chính trị gia dường như đang “sợ hãi trong việc can thiệp vào chế độ ăn uống, thiếu lành mạnh của người dân”.

ODI còn cảnh báo, nếu chính phủ các nước không hành động ngay thì sẽ phải đối mặt với “đại dịch” ung thư, tiểu đường, đột quỵ và đau tim, đặt gánh nặng rất lớn lên hệ thống y tế các nước, vốn đã nghèo, nay lại càng trở nên kiệt quệ hơn.

Nhiều người lại cho rằng, tốt nhất là chính phủ nên can thiệp trước khi một món thức ăn nhanh xuất hiện trên thị trường, chứ không phải, đợi đến khi ra lò rồi mới bắt đầu đi tuyên truyền hay hạn chế bằng pháp lệnh hành chính.

Trong khi đó, các thương hiệu đồ ăn nhanh vẫn tiếp tục nhởn nhơ, với hàng loạt quảng cáo đánh vào những đứa trẻ, chứ không phải người trưởng thành.

Theo nghiên cứu của Robert Wood Johnson Foundation, 99% quảng cáo từ McDonald’s cho đến Burger King, nhắm đến trẻ em.

Họ không còn đánh mạnh vào hình ảnh bữa ăn, mà dùng các chiêu dụ, hoặc thông qua nhân vật hoạt hình, trò chơi, các đoạn phim… để thu hút sự chú ý của trẻ em, khiến chúng quên đi những hình ảnh đáng sợ về căn bệnh béo phì, hay đau tim đang tiềm ẩn trong từng miếng gà chiên hay chiếc Hamburger béo ngậy.

Dù các nhà quảng cáo ngày nay, dưới áp lực của xã hội, cũng đã tung ra những quảng cáo “lành mạnh hơn”, nhưng điều quan trọng, không phải là nội dung quảng cáo, mà là những hình ảnh này càng khiến trẻ nhỏ, đặc biệt, những em vốn đã thừa cân, hay béo phì, càng nhớ lâu những cái tên như McDonald’s, Burger King, KFC… và vòi vĩnh cha mẹ dẫn đến những địa điểm này.

Quả thực, theo báo cáo của Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ, 45% trẻ em tiếp xúc với những quảng cáo này, tiêu thụ nhiều thức ăn hơn so với những em không xem.

Thậm chí, 5 năm sau, khi được tiếp xúc với chương trình khuyến mãi của các loại thực phẩm không lành mạnh, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, trẻ em tiếp tục mua ít trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt hơn, song lại gia tăng lượng tiêu thụ về thức ăn nhanh, thức ăn chiên xào và thức uống ngọt.

Đằng sau những cánh cửa sáng loáng, các thức ăn, dù có được tô hồng là “lành mạnh” đến đâu, thì thức ăn nhanh vẫn chỉ là loại thực phẩm tiềm ẩn nhiều nguy cơ béo phì.

Những khẩu hiệu “đứng về phía sức khỏe của người tiêu dùng” không thể xóa đi thực tế rằng: McDonald’s, Burger King, KFC… vẫn phải dựa trên sản phẩm truyền thống của họ là, những thứ đồ ăn nhanh gây “nghiện”, có hại cho sức khỏe, mọi sự tuyên bố “thay đổi” của các hãng, trong lúc này chỉ là “mị dân”.

Bản báo cáo trên đây của ODI đã khiến cho các ông trùm trong nghành kinh doanh thức ăn nhanh không “hài lòng” cho mấy.

Nhưng bản báo cáo này, lại là chiếc chìa khoá vàng đang dành cho bạn, nếu bạn muốn “chen chân” và muốn xây dựng một đế chế thức ăn nhanh cho riêng bạn.

VẬY BẠN NÊN LÀM THẾ NÀO?

Trong 7 ông trùm của nghành ẩm thực nhanh thì hết 6 ông đều được liệt vào trong danh sách “gây hại cho sức khỏe”, tạo ra chứng béo phì và thừa cân cho nhân loại.

Chỉ riêng ông trùm Subway là thoát khỏi.

Tuy phát triển sau McDonald’s hơn 11 năm (1965), nhưng đến nay, Subway đã có hơn 41,000 chi nhánh khắp nơi trên thế giới.

Sản phẩm chính của Subway chỉ là bánh mì tự nướng, bán với các loại thịt ham, thịt viên, cheese và rau. Nếu đem so sánh giữa các thức ăn nhanh, về độ bổ dưỡng khỏe mạnh thì Subway có thể được gọi là thức ăn lành. Nhưng nếu nói đến độ ngon, thì bánh mì của Subway vẫn không có thể cạnh tranh với món McRib của McDonald’s.

Như chúng tôi đã trình bầy, con người hôm nay không phải chỉ có “ăn để sống”, mà họ còn “sống để ăn.”

“Ăn để sống” thì thực phẩm cần phải tươi lành, không độc hại. “Sống để ăn” thì thực phẩm cần phải nêm nếm hài hoà, ngon miệng.

Cho nên, tuy cả 6 ông trùm đều bị liệt vào danh sách nguy hiểm, nhưng vì ngon, nên người ta vẫn ủng hộ. Ngược lại, ông trùm Subway, tuy phát triển nhiều chi nhánh hơn, nhưng nếu đem so với cả 6 ông gộp lại thì Subway cũng chỉ chiếm được có 1/8 thị trường. 

Như vậy, con số thích ăn ngon (sống để ăn) vẫn chiếm đa số. Nhưng con số ăn lành (ăn để sống) cũng hết sức ấn tượng, khi Subway vẫn tiếp tục gia tăng các chi nhánh trên toàn thế giới.

Rõ ràng, con người hôm nay, họ không phải chỉ có thích ăn để sống (lành), mà họ còn đòi hỏi, sống để ăn (ngon) nữa.

Tiếc thay cho các ông trùm là, không có ông nào có thể thoả mãn được cả hai tố chất “ngon và lành” cùng một lúc. Thế nên, đây cũng chính là cơ hội “trăm năm” mới có một lần cho bạn.

Bởi vì, nền văn hóa ẩm thực của Việt Nam từ ngàn xưa cho đến nay đều mang 2 tính chất “ngon và lành”.

Chỉ cần bạn biết chọn ra những món thích hợp, có kế hoạch rõ ràng, biết giáo dục khách hàng, có tiếp thị đúng đắn, chắc chắc, các ông trùm cũng phải “toát mồ hôi hột” với bạn.

Sống trên đất Mỹ, hầu như tất cả những nền ẩm thực trên thế giới đều có mặt ở đây.  Nhưng hiếm có nền văn hóa ẩm thực nào có những nét độc đáo nắm vững được cả hai tố chất “ngon và lành” như Việt Nam.

Nhân loại hôm nay, đang hướng về, cũng như, đang đi tìm một nền văn hóa ẩm thực “ngon và lành”.

Bạn đã có sẵn trong tay. Vấn đề là, bạn có “thấy ra thời”, và có dám “tạo ra thời” hay không mà thôi.

We use cookies in order to give you the best possible experience on our website. By continuing to use this site, you agree to our use of cookies.
Accept