CÔNG DUNG NGÔN HẠNH

album-art

00:00

TẢI MP3 – QUẢNG BẢO TÂM
TẢI MP3 – HƯƠNG CHIỀU – VIÊN NGUYỆT

Bạn Thân Mến,

Ngày nay, khi nói đến bốn chữ Công, Dung, Ngôn, Hạnh thì không ít người trong chúng ta cho rằng nó cổ lỗ sĩ, nó không hợp thời, và nó thuộc về chế độ phong kiến, “đàn áp” người phụ nữ phải tuân theo, trong khi, nam giới thì lại không cần.

Cho nên, những người phụ nữ ngày nay với tư tưởng tự do bình đẳng, xem đó như là một điều tệ hại, cổ hũ, cần phải xóa bỏ.

Thật ra bốn chữ Công, Dung, Ngôn, Hạnh có phải là “tệ hại” đến như thế không, và có cần phải “tiêu diệt” không thì chúng ta hãy bắt đầu dùng sự quan sát và nhìn sâu vào để hiểu.

Đứng trên góc độ định nghĩa:

Công có nghĩa là chung, cùng chung, ngay thẳng, không có riêng tư, rõ ràng; hay khi diễn rộng ra được hiểu là: nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, may vá thêu thùa, nuôi dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan (ngày xưa), hay công việc, việc làm (ngày nay).

Dung nghĩa là dáng dấp, hình tướng, hay là vẻ đẹp thùy mị, kín đáo, duyên dáng.

Ngôn nghĩa là lời nói, hay là lời nói nhã nhặn, nhỏ nhẹ, dễ nghe; nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng phép tắc.

Hạnh nghĩa là nết na, hay lòng nhân hậu, thủy chung son sắt, giầu tình yêu thương.

Chúng tôi còn nhớ cách đây hơn 30 năm, khi tham dự một khóa học về huấn luyện nhân viên. Lúc đó, vị tiến sĩ về tâm lý đã “khoe” về những khám phá của ông, trong cách chính phục khách hàng để tăng lợi nhuận cho công ty.

Trong suốt bốn tiếng đồng hồ, ông thao thao bất tuyệt giảng về bốn chữ “công, dung, ngôn, hạnh”.

Lúc mới đầu nghe, chúng tôi nghĩ “khám phá” của ông chắc có gì vĩ đại lắm, nhưng khi ông đi vào chi tiết của một người bán hàng, muốn chinh phục được người khách một cách thành công, thì phải có bốn yếu tố sau đây:

Về công việc: phải luôn ý thức được việc của mình cần phải làm là gì, phải hiểu rất rõ ràng những mặt hàng mà người tiêu dùng sẽ mua, và luôn trau dồi kiến thức chuyên môn để có thể thuyết phục khách hàng.

Về Dung mạo: phải luôn cười tươi tắn, không cáu gắt, mặt lạnh như tiền.

Về lời nói: phải dịu dàng, nhỏ nhẹ, không to tiếng cãi vã với khách hàng.

Về phong cách: luôn kiên nhẫn, nhẫn nại.

Quả thật, sau khóa huấn luyện, công ty đó thu được lợi nhuận cuối năm gần gấp đôi, nếu so với các năm trước.

Trải qua hơn ba mươi năm, bốn “đặc tính” này, hầu như đã trở thành bốn đặt tính “bắt buộc” cho những ai trong nghành phục vụ, phải có, nếu muốn thành công.

Trong khi, vị tiến sĩ năm xưa, giờ đã khuất núi; không biết khi giã từ cuộc đời, ông vẫn tin rằng, ông chính là người đã khám phá ra bốn “đặc tính” này hay không.

Nhưng chúng tôi biết, bốn điều này thì đã có cả nghìn năm, mà ngày xưa, các chị và em gái của chúng tôi đều phải học và thực hành. Còn chúng tôi là con trai, nên được miễn.

Lúc đó, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc lắm, vì không phải thực tập như: khi rót một ly nước mời khách, cũng không để cho có bọt nổi lên,v.v. Nhưng sau này, khi ra đời, và bị đời “quật” cho tơi tả, thì chúng tôi mới biết được giá trị của bốn chữ “công, dung, ngôn, hạnh” là gì. Và tại sao ông cha chúng ta lại phải dậy rất kỹ cho người con gái.

Dù xưa hay nay, khi nói đến người phụ nữ thì luôn luôn gợi đến hình ảnh của một điều gì đó, dịu dàng, mềm mại.

Trong thuyết Âm Dương, người phụ nữ thuộc về Âm, mang tính nuôi nấng, sinh trưởng, nhu hòa, mềm mỏng như nước, an tĩnh mà khoan thai, không nóng nẩy, không dong dài.

Cho nên ngày xưa, ông cha chúng ta đã gọi những người vợ của mình là “nội tướng”, nghĩa là “ông tướng ở bên trong”.

Nói về tướng hay binh pháp, thì tướng tiên phương đánh trận không quan trọng bằng tướng giữ thành (nội tướng). Vì sao?

Vì dù có đánh thắng được bao nhiêu thành, mà không có tướng giữ được thành, thì có đánh được bao nhiêu thành cũng như không. Không những vừa tốn công, vùa tốn sức, mà chẳng được gì.

Cho nên, trong binh pháp những ông quan Văn (nội tướng) thường quan trọng hơn ông quan võ (tiên phương), vì ông quan văn biết cách giáo dục người dân, thiết lập luật pháp, và ổn định lòng dân để có thể đủ sức giữ thành.

Hai chữ “nội tướng” được ông cha chúng ta đặt lên vai người phụ nữ, không phải là gánh nặng hay “áp bức” người phụ nữ, như chúng ta ngày nay đã hiểu lầm, mà đó là biểu tượng của sự tôn kính, kính phục, mà những đàn ông thuộc tướng tiên phương không thể làm được.

Chính vì trọng trách quá lớn này, nên khi còn nhỏ, những người con gái đã phải được trui rèn tứ đức: “công, dung, ngôn, hạnh” để biến thành một thói quen.

Chỉ khi đã biến thành thói quen, thì người con gái, sau khi có chồng và có con, mới có thể đóng trọn vai “nội tướng” một cách “thảnh thơi” và xuất sắc.

Không ai trong chúng ta xa lạ với câu chuyện về Mạnh Mẫu, một người mẹ, qua thói quen “công, dung, ngôn. hạnh” đã đào tạo ra nhà hiền triết lỗi lạc của Trung Quốc.

Mạnh Tử mồ côi cha, và chịu sự giáo dục nghiêm túc của mẹ là Chương Thị, sau này, được gọi là Mạnh Mẫu. Bà nổi tiếng với câu chuyện: 3 lần chuyển nhà để cho con trai mình được sống, học tập trong ngôi trường và môi trường giáo dục tốt nhất.

Chuyện kể rằng, mẹ con Mạnh Tử sống gần bãi tha ma. Hàng ngày, Mạnh Tử vẫn thường ra đấy nô đùa, ông thường diễn lại những cảnh nhìn thấy ở bãi tha ma.

Mạnh Mẫu nhận thấy, đây không phải là chỗ ở tốt cho con trai mình, bà liền chuyển nhà sang một khu phố mua bán sầm uất, nhưng tình hình không khả quan cho lắm.

Ông lại học cách cân, đo, đong, đếm của những kẻ mua bán, hay khoe khoang đồ của mình. Lần này, Mạnh Mẫu chuyển nhà đến gần một ngôi trường; Mạnh Tử sống gần đây, nên học những khuôn mẫu lễ giáo, học hành chăm chỉ; lúc bấy giờ, Mạnh Mẫu mới thở phào: “Đây mới là chỗ ở của con ta”.

Có một lần, nhà hàng xóm mổ lợn, Mạnh Tử thấy vậy hỏi bà: mổ lợn để làm gì?, bà lỡ miệng nói đùa: “Để cho con ăn”. Sau đó, bà đi mua thịt lợn về cho con ăn, vì bà nghĩ, nếu mình nói dối con, chẳng khác nào dạy con nói dối.

Một câu chuyện nổi tiếng khác về Mạnh Mẫu dạy con, đó là, khi bà đang dệt vải, thấy con trốn học đi về. Bà kêu Mạnh Tử đến gần, rồi cầm dao chặt đứt tấm vải và mắng:

“Con đi học mà bỏ học, chẳng khác nào mẹ dệt vải mà chặt đứt nó vậy”.

Thấm thía lời mẹ dậy, ông chăm học, dần trở thành học sinh giỏi nhất lớp, và trở thành bậc đại hiền triết sau này.

Trong văn thơ của Việt Nam, nhà thơ Tú Xương đã ca ngợi người vợ của mình qua bài thơ “Thương Vợ” như sau:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Qua miêu tả của ông, chúng ta có thể thấy ngay được nét đẹp tuyệt vời của bà Tú, một người phụ nữ đảm đang, chu toàn, công, dung, ngôn, hạnh của mình.

Trong 8 câu thơ của ông, chúng ta thấy nhà thơ Tú Xương không những biết ơn vợ, mà ông còn cảm thấy tủi thẹn, khi không thể đem đến no ấm cho người “nội tướng” của mình.

Cuộc đời của bà Tú là cuộc đời tảo tần, chỉ vì chồng, vì con. Bà chưa hề trách móc gì ông; dù văn tài của ông xuất chúng, nhưng vì tính khí ngang tàng của ông đã khiến ông thi trượt bao lần.

Bà Tú chưa một lần oán trách ông; bà vẫn dành dụm, chắt chiu từng đồng để ông có lộ phí đi thi. Nhưng cuối cùng, ông vẫn quay về nhà, và bà vẫn tiếp tục tảo tần buôn bán, nuôi chồng, nuôi con.

Vì sao chúng ta có thể biết bà không trách mắng hay buồn phiền gì ông?

Qua hai câu cuối, chính ông cũng đã “bực” dùm cho bà, tại sao có một người chồng “vô dụng” như ông, mà vẫn cư xử qúa đẹp với ông. Đến nỗi, chính ông cũng cảm thấy được sự bất công của ông dành cho vợ.

Nhưng chắc chắn bà Tú đã không nghĩ như ông, vì bà Tú đã có thói quen của công, dung, ngôn, hạnh, nên bà đã không cảm thấy đó là bất công, mà với bà, đó là trách nhiệm của một “nội tướng” nên làm.

Nếu Bà Tú như ngày nay, cứ cằn nhằn, trách móc, oán hờn, dằn vặt, thì chắc chắn ông Tú Xương sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, và ông cũng sẽ không “bực mình” dùm bà, khi thốt lên hai câu cuối:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Như vậy, chúng ta thấy, công, dung, ngôn, hạnh là bốn đức tính vô cùng cần thiết trong cách ứng xử giữa người với người.

Dù cho xưa hay nay thì cũng đều có giá trị để nâng cao phẩm chất của con người. Không những chỉ có người phụ nữ phải học, mà hễ ai là con người, cũng phải học và hành “công, dung, ngôn, hạnh”.

Chúng ta không những chỉ thực hành trong gia đình, xã hội, chính trị, mà ngay cả trong kinh tế, cũng đều đem đến những sự thành công.

Điều mà các phụ nữ ngày nay muốn loại bỏ, đó không phải là Tứ Đức “công, dung, ngôn, hạnh” mà phải là Tam Tòng: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, nghĩa là, ở nhà phải theo cha, đi lấy chồng phải theo chồng, chồng chết phải theo con.

Tam Tòng này, đúng là chỉ thích hợp với người xưa chứ không thích hợp với ngày nay, và cần phải loại bỏ.

Có lẽ, vì Tam Tòng luôn được đặt chung với Tứ Đức, nên các phụ nữ ngày nay đã hiểu lầm chăng? Và họ đã loại bỏ luôn cả “Tứ Đức – Công, Dung, Ngôn, Hạnh”. Trong khi, bốn đức này làm cho nhân phẩm của con người được đẹp hơn, mà hễ là con người, dù ở thời xưa hay nay cũng đều cần phải có.

THẤT BẠI LÀ MẸ THÀNH CÔNG

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN

Bạn Thân Mến,

Ai trong chúng ta cũng đều có những thành công và thất bại. Có những thành công của người này, vượt trội hơn người kia. Hay có những thất bại của người này, to lớn hơn người kia. Nhưng tại sao “thất bại là mẹ thành công”, lại là chủ đề khiến chúng ta phải “động não”.

Đứng trên góc độ định nghĩa thì Thành là thành tựu, đạt được, nên việc; và Công là công việc, việc làm. Vậy Thành Công có nghĩa là đạt được, hay làm xong việc một cách tốt đẹp.

Còn Thất Bại, Thất nghĩa là mất, thua, hỏng việc, và Bại có nghĩa là hư, hỏng. Như vậy, Thất Bại là hỏng hay không đạt được mục đích đã đề ra.

Qua định nghĩa của Thành Công và Thất Bại, chúng ta thấy, Thành Công là kết quả từ một mục đích nào đó đã được hoàn thành, và Thất Bại cũng là hậu quả mà chúng ta nhận được khi không thể hoàn thành được mục đích mà chúng ta đặt ra.

Nhưng tại sao các cụ ngày xưa lại cho rằng: “thất bại là mẹ thành công”?

Nếu đứng trên lý thuyết của nhân quả thì Thất Bại là nhân, và quả là Thành Công, thì hoàn toàn không hợp lý chút nào. Vì Thất bại là nhân xấu, làm sao cho ra quả tốt được. Như vậy, chẳng lẽ cha ông của chúng ta đã sai?

Nói đến thông minh, và làm sao để sống có nhiều an lạc hơn, ứng xử khéo hơn, thì chúng ta ngày nay còn thua xa các bậc tiền nhân. Không phải vì chúng ta ngày nay tụt hậu, mà vì, chúng ta đang được “Tây hóa”.

Thế giới ngày nay được phân chia làm hai phần khá rõ rệt, đó là, thế giới về vật chất và thế giới về tinh thần.

Nói về vật chất, nếu phương Tây chịu đứng thứ nhì, thì không có ai dám nhận đứng nhất. Những sự phát minh về khoa học, máy móc, kỹ thuật, y học phẫu thuật, v.v thì phương Đông chỉ có thể “lót dép” để theo học cũng không xong.

Bởi vì, tất cả những tư duy của phương tây đều hướng đến sự phát triển về vật chất. Quan niệm của họ nghiêng về duy vật. Họ quan niệm khi chết là hết, nên khi còn sống, họ muốn thỏa mãn được tất cả những khát khao về vất chất, mà họ có thể có được, để phục vụ cho họ. Chính vì thế, nên những tư duy nghiêng về tâm linh, hay về tinh thần, thì họ có đóng góp ít hơn phương Đông.

Ngược lại, phương Đông là nơi sản sinh ra rất nhiều nhà Hiền Triết, những tôn giáo lớn trên trái đất này. Với người phương Đông, vì quan niệm vật chất là phù du, chỉ có tâm An Lạc, Hạnh Phúc mới là quan trọng. Cho nên, thay vì dành phần lớn thời gian phát triển về vật chất, họ lại dùng phần lớn thời gian hướng về tâm linh, về tinh thần.

Chính vì vậy, nếu nói về kinh nghiệm tâm linh hay tinh thần, thì phương Tây lại phải “cầm giầy” chạy theo phương Đông.

Đó cũng chính là sự quân bình giữa phương Tây và phương Đông, ai cũng có thế mạnh của riêng mình.

Cho nên, khi chúng ta bị “Tây hóa” thì chúng ta cũng bắt đầu thói quen hướng những tư duy của chúng ta về vật chất. Vì vậy, sự phát triển về tâm linh hay tinh thần của chúng ta kém với cha ông của chúng ta cũng là lẽ thường tình.

Tuy ngày nay, chúng ta sống “hướng ngoại” về phương Tây, chúng ta có thể sống sung túc với sự phục vụ vật chất đến tận răng. Nhưng chúng ta là con người, chúng ta có cảm xúc/giác. Cho dù thân thể của chúng ta có được cung phụng đầy đủ thì cảm xúc/giác của chúng ta về tâm linh vẫn sinh hoạt giống nghìn xưa. Chúng ta vẫn có những hỷ, nộ, ái, ố, những buồn vui bất chợt.

Chính vì vậy, trở về để học hỏi những tinh hoa của cha ông chúng ta đã tích lũy bao đời, làm sao sống có được sự an lạc và hạnh phúc, là việc làm cần thiết.

Trở lại câu hỏi, tại sao Thất Bại là Mẹ Thành Công? Nếu chúng ta chịu khó quan sát kỹ, chúng ta thấy, trong qúa trình phát triển và thực hiện mục đích thì chữ “mẹ” ở đây, mới là yếu tố quyết định cái qủa kia là thành công hay không.

Chữ “mẹ” ở đây, không phải là nghĩa đen ám chỉ về người sinh thành ra chúng ta, mà “mẹ” ở đây, là nơi sản sinh ra những phương pháp, những cách ứng dụng để đem đến sự thành công. Cho nên, chữ “mẹ” trong câu này biến thất bại trở thành nhân.

Nếu thất bại là Nhân, và theo đúng thuyết nhân quả thì chúng ta phải ra qủa là thất bại chứ sao lại là thành công?

Nếu bạn chịu khó để ý, bạn đang nói về lý thuyết của Nhân Quả, và điều này hoàn toàn đúng, khi thuộc về tâm lý. Nhưng câu: “thất bại là mẹ thành công” đang nói về ứng dụng của thuyết nhân quả, chứ không nói về lý thuyết của  thuyết nhân quả. Và đây mới chính là chỗ tuyệt diệu nhất của các bậc tiền nhân của chúng ta, qua ứng dụng.

Thí dụ: chúng ta gieo hạt giống là trái chanh, theo lý thuyết thì chúng ta phải ra quả chanh, chứ không phải quả khác. Nhưng qua ứng dụng thì chúng ta có thể cắt thân cây chanh, và ghép vào cây tắc, trong khoảng một thời gian, chúng ta sẽ có những trái tắc mà không phải trái chanh.

Nếu chúng ta dựa trên lý thuyết thì chúng ta sẽ không thể nào giải thích được việc nhân này ra qủa kia. Nhưng nếu chúng ta dựa trên ứng dụng thuyết nhân quả thì chúng ta lại dễ dàng giải thích và chấp nhận sự thật.

Cái hay trong câu “thất bại là mẹ thành công” ở đây, qua cách ứng dụng, chúng ta không hề sợ cái nhân đó là gì. Cho dù, cái nhân đó có là thất bại, nhưng khi đem những thất bại đó lên để quan sát và nhìn sâu, rồi chỉnh sửa lại (mẹ) thì cái thất bại đó có thể ra hoa trái là thành công.

Hãy dùng thí dụ dưới đây để minh họa:

Có một chị muốn mở một tiệm phở để kinh doanh.

Người này rất tự tin với khả năng nấu nướng của mình, vì chị đã được những người trong gia đình và bạn bè khen chị nấu ăn ngon. Cho nên, chị nghĩ, khi chị mở tiệm phở, chị sẽ chính phục được khách hàng.

Chị đã dùng số tiền chị tiết kiệm bấy lâu, và ra mở tiệm phở. Tiếc rằng, chị lại không biết, muốn kinh doanh và làm chủ thì không phải chị chỉ biết nấu ăn ngon là đủ, mà còn phải có ít nhất 6 “chiếc nón” khác, mà người chủ cần phải có, bao gồm: hệ thống điều hành, quản trị, tài chánh, tiếp thị, huấn nghệ, nhân sự.

Cho nên, chỉ trong vòng một năm, chị đã phải đóng cửa.

Như vậy, nếu chúng ta nhìn từ ban đầu thì phải nói, chị chọn mục đích là thành công (nhân) nhưng vì trong qúa trình phát triển, chị lại thiếu 6 “chiếc nón” khác, nên cuối cùng, kết quả của chị nhận được là thất bại.

Trên thực tế, chúng ta thấy, chúng ta sử dụng về ứng dụng nhiều hơn là trên lý thuyết, nhưng chúng ta lại không hay để ý đến, nên hay dùng lý thuyết để nói về nhân quả, mà lại chẳng bao giờ nói đến “ứng dụng”.

Bây giờ, chúng ta lại dùng câu chuyện của chị, sau khi thất bại về, và chị bắt đầu quan sát và nhìn sâu vào sự thất bại của chị. Chị biết, chị thiếu 6 “chiếc nón” để đưa đến kết quả thành công. Chị không những đầu tư vào học hỏi. mà chị còn tiếp cận với những người cố vấn có kinh nghiệm để giúp cho chị.

Sau đó, chị lại ra mở cửa tiệm, với những kinh nghiệm tích lũy từ sự học hỏi của chị, cộng thêm sự cố vấn của những người có kinh nghiệm, lần này, chị lại rất thành công.

Sự thành công lần này, không phải phát xuất từ sự tự tin nấu ăn ngon của chị, mà bắt đầu từ sự thất bại, bắt đầu bằng sự chỉnh sửa lại những sai lầm mà lúc xưa, chị chưa biết.

Vậy câu: “Thất bại là mẹ thành công”, chỉ có thể ứng dụng cho kinh doanh, hay có thể ứng dụng cho tất cả mọi lĩnh vực, trong đó, bao gồm luôn việc giải quyết về khổ đau?

Chắc chắn là bạn có thể ứng dụng câu: “Thất bại là mẹ thành công” trong việc giải quyết các vấn đề về khổ đau, cũng rất đơn giản.

Thí dụ, khi chúng ta dùng câu: “Thất bại là mẹ thành công” trong việc giải quyết những sự khổ đau trong qúa khứ mà chúng ta đã “trốn chạy” hay “đè nén”, bằng cách. chúng ta sử dụng phương pháp bốn bước, gồm:

  1. Xác định chúng ta đang có vấn đề
  2. Đi tìm nguyên nhân có vấn đề
  3. Cách thức giải quyết vấn đề
  4. Thời gian giải quyết vấn đề

Khi chúng ta thực hành bốn bước một cách nghiêm chỉnh thì chúng ta đang lấy những thất bại trong cuộc đời làm “thực nghiệm” cho qúa trình phát triển, và qua qúa trình này, chúng ta dùng bốn bước để đưa đến kết quả thành công. Thành công ở đây, có nghĩa là chúng ta đã giải quyết vấn đề của chúng ta một cách tốt đẹp hay rốt ráo, mà không để lại hậu quả.

Nếu chúng ta để ý kỹ, chúng ta thấy cái hay của ông cha chúng ta là, đã dậy chúng ta những phương pháp ứng dụng thật tuyệt vời. Chỉ trong 6 chữ: “Thất bại là mẹ thành công”, mà trong đó bao hàm tất cả tinh hoa của sự chuyển hóa.

Qua 6 chữ này, chúng ta có thể thay nhân hay thay quả, và quan trọng nhất, đó chính là, dậy cho chúng ta quyền chủ động và ứng dụng quyền chủ động.

Khi chúng ta chủ động, có nghĩa là, chúng ta đang nắm vấn đề trong tầm tay của chúng ta, mà không phải là những vấn đề, vượt ngoài tầm tay của chúng ta, như khi chúng ta trong thế bị động.

Chính vì vậy, dù kết quả có ra sao, chúng ta vẫn là người thành công, vì người thành công là người luôn nắm được thế chủ động.

Trên thực tế, chúng ta thấy những người thành công đều rất tự tin vào chính họ. Muốn có được sự tự tin này, họ phải có những kinh nghiệm đã trải qua, và họ luôn nắm những vấn đề trong tầm tay của họ, hay họ luôn là người chủ động.

Ngày nào, bạn chưa biết nắm được sự chủ động, nắm được sự việc trong tầm tay của bạn, và bạn vẫn bị rơi vào thế bị động, thì cho dù mục đích của bạn có đẹp bao nhiêu, có vĩ đại bao nhiêu, cuối cùng, bạn cũng sẽ nhận được một kết quả là thất bại. Vì sao?

Đơn giản, là vì bạn luôn bị “xỏ mũi”, bạn luôn bị người khác dẫn bạn đi, mà bạn không thể kháng cự lại khi bạn trong thế bị động.

Cho nên, đừng bao giờ cho rằng, hễ chúng ta có mục đích tốt thì chúng ta sẽ ra kết quả tốt, mà trên thực tế, chúng ta thường bị “đứt đoạn” hay bỏ cuộc nửa chừng.

Ngược lại, cha ông của chúng ta, qua ứng dụng, lại dậy cho chúng ta một góc nhìn mới, đó là, không cần phải sợ cái nhân hay quả là gì, mà chỉ cần chú tâm vào qúa trình phát triển.

Chữ “mẹ” được sử dụng trong câu: “Thất bại là mẹ thành công” thật rất tuyệt vời. Ngoài ý nghĩa là chủ, là chính, là phần định đoạt, thì hình ảnh người mẹ cũng bao gồm những đức tính: công, dung, ngôn, hạnh. Đây là chìa khóa bí mật để đem đến thành công, nhất là trong thương trường.

BẠN VÀ BÈ

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN

Bạn Thân Mến,

Nói đến hai chữ bạn bè, chẳng có ai trong chúng ta không hiểu cả, bởi vì, chúng ta đã sử dụng hai từ bạn bè qúa nhiều lần. Nhưng, thế nào là Bạn? và thế nào là Bè? thì sẽ khiến bạn phải “động não” đấy.

Câu chuyện chúng tôi muốn chia xẻ với bạn hôm nay là câu chuyện liên quan đến hai chữ “bạn bè”, khi chúng tôi nhận được email từ một người quen.

Chào anh,

Như anh đã biết, để hình thành trọn vẹn kiếp nhân sinh của mình, chúng ta đều phải trải qua: hỷ, nộ , ái , ố. Nên những cái hay ai cũng trải nghiệm trong đời mình, và thích nghi với mọi hoàn cảnh, nhưng anh hãy cho em sự góp ý chân thành, và câu hỏi em đặt ra thì em nghĩ cũng có rất nhiều người vướng phải, như sau:

Biết rằng” Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, nhưng cuộc sống người làm Nail (nhất là những người mới sang) thời gian và công việc đều có giới hạn, và cuộc sống của người làm Nail, chỉ giới hạn mỗi ngày sáng đi tối về, và cuối tuần thì tất bật với nấu ăn, dọn dẹp…. Thì cách nào để tìm cho mình được người bạn tốt. Vì em thấy, cuộc sống ở đây không có nhiều tình cảm như ở Việt Nam.

Có thể, câu hỏi này sẽ làm phật lòng nhiều người, nhưng là câu nói thật. Vì em thấy họ, chỉ nói bằng miệng chứ cách họ làm thì ngược lại.

Thí dụ:

  1. Người A có bằng Nail, biết người B mới sang. Khi gặp nhau trong tiệm thì cứ mở miệng: em mới sang, ráng làm đi… Nhưng khi thấy khách chọn người B nhiều, thì chọt sau lưng chủ: nó không có bằng….. Đủ thứ …

Người B thì luôn tin tưởng quý người A như người ơn, mà không hề hay biết, mình bị đâm sau lưng. Mãi đến khi có người C kể cho biết thì người B bị hụt hẫng tình cảm.

  1. Chị chủ trước khi nhận vô làm, biết người ta không có bằng, nhưng vì mùa thuế nên cần thợ. Sau đó, hứa cho vay tiền để lo bằng. Người thợ bỏ học để đi làm, vì sợ mất khách cho chủ.

Sau đó, chủ nhận nhiều thợ có bằng thì nói xa nói gần là: ngại state board đến. Rồi việc lo bằng thì mượn cớ là, người thợ hỏi chỗ khác làm…. Bao nhiêu vấn đề khác nữa, mà người thợ thì luôn nghĩ: mình sống thật. Chia xẻ vui buồn, và chăm sóc tiệm tốt như tình cảm của người bạn.

Vậy cách nào nhận biết là nguoi bạn tốt và kẻ xấu để không phí thời gian với họ đối với nghề Nail này???

Cám ơn Anh

P/s: vấn đề cá nhân, thay mặt bạn em hỏi dùm, không ám chỉ ai. Mong chúng ta hãy cùng chung tay xây dựng tình cảm con người với con người, ngày càng tốt đẹp hơn.

Chào chị T,

Đọc xong những câu hỏi của chị, tôi muốn trả lời cho chị ngay, nhưng vì công việc khá bận rộn, nên chưa có thời gian rảnh rỗi. Mong chị thông cảm cho.

Nếu tôi nhớ không lầm, trước đây tôi đã chia xẻ một bài thơ về “Bạn và Bè”, Không biết chị đã đọc chưa, nên tiện đây tôi xin trích lại.

BẠN VÀ BÈ…

Ngày xưa, khi quen biết ai, tôi vẫn quen gọi họ là bạn. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, thì những người mà tôi gọi là bạn này, lại “đâm sau lưng” tôi. Tôi hoang mang, mơ hồ, khổ đau và thu mình vào trong lớp vỏ cô đơn. Cho đến khi, tôi trở lại với chính mình, và bắt đầu học quan sát và nhìn sâu, tôi mới biết được, đâu là Bạn đâu là Bè.

Bạn là người đồng cam cộng khổ

Chia xẻ buồn vui

Nâng đỡ nhau trong hoạn nạn

Chia xẻ lúc hân hoan

Ngưòi có thể thổ lộ tâm cang

Giúp cho mình hướng thiện

Bè là hội ngộ phút giây

Cùng là cây, kết thành một khối

Nhưng, sẽ vội chia xa

Khi gặp phong ba bão táp

Bè sẽ chẳng hỏi đáp

Khi mình có gian nan

Bè sẽ đến khi sang

Nghoảnh mặt đi, khi nghèo nàn túng thiếu

Đối với Bạn thì lấy chân tình ra cư xử

Đối với Bè thì lấy lễ nghĩa ra trao

Mất đi bạn thì mất cả trăng sao vũ trụ

Mất đi Bè thì cứ An trú thản nhiên

Gặp nhau muôn sự tùy duyên

Mất Bè thì cứ an nhiên, mỉm cười

Và từ đó, tôi đã thoát khỏi lớp vỏ cô đơn và biết mỉm cười và chia xẻ.

Nếu chị đọc kỹ bài thơ này, chị sẽ thấy, cách phân biệt và ứng xử với Bạn và Bè khác nhau. Cho nên, khi chúng ta lầm lẫn trong sự phân biệt thì chúng ta phải “chịu trách nhiệm” với sự lựa chọn của mình.

Nếu tôi là chị, tôi thấy tôi có 3 lỗi lớn mà tôi cần phải học hỏi và hoàn thiện bản thân mình.

1- Nhận Thức

Mỗi một cá nhân đều có những sự nhận thức khác nhau về những hoàn cảnh môi trường, sự việc v.v. Sự nhận thức khác biệt này, nương trên định nghĩa, kinh nghiệm tích lũy, môi trường và hoàn cảnh.

Sự nhận thức sẽ trở nên sai lầm khi có sự tham gia của bản ngã “cái tôi”. Chính vì có “cái tôi”, nên chúng ta không thể nhận thức “sự thật đúng như là nó.” Vì vậy, chúng ta thường “tưởng tượng” ra kết qủa, và cuối cùng khi tiếp xúc với cái kết qủa thật, chúng ta thường thất vọng, khổ đau.

Trong câu thí dụ của chị, rõ ràng nhận thức của chị có “vấn đề”. Đó là chị, không có khả năng phân biệt giữa Bạn và Bè.

Khi chị không phân biệt được giữa bạn và bè, dẫn đến tình trạng chị “ứng xử” không đúng cách. Sự ứng xử đó, lại được chị “tô hồng thêm” kết quả là, “khi chị tốt với họ thì họ sẽ tốt lại với chị”.

Vì vậy, khi tiếp xúc với kết quả thật “họ không tốt với chị như chị nghĩ” thì chị bực tức, than van, và trách móc họ. Nếu tôi là chị, tôi sẽ không “than phiền” về họ, mà tôi sẽ “trách” chính bản thân tôi đã không học hỏi và ứng xử đúng cách. Chính tôi mới là “tác nhân” gây ra cho tôi “đau khổ”, và chỉ có chính tôi mới có thể sửa đổi và tha thứ cho những lỗi lầm của mình.

2- Lựa Chọn

Ai trong chúng ta cũng có quyền lựa chọn. Chúng ta có toàn quyền quyết định lựa chọn của mình. Như vậy, chúng ta phải có trách nhiệm về sự lựa chọn này. Chúng ta không thể đòi quyền lựa chọn, được quyền chọn lựa, nhưng lại không muốn gánh trách nhiệm về sự lựa chọn của mình.

Rõ ràng, trong câu chuyện thí dụ của chị, chị đã chọn lựa, tin vào những gì người chủ hứa, chị chọn lựa giúp cho người chủ đó trong lúc khó khăn. Chị quyết định nghỉ học để giúp cho họ. Họ đâu có cầm dao hay cầm súng ép chị phải giúp cho họ, có phải thế không? Họ cũng đâu có dùng bất cứ phương tiện nguy hiểm nào để bắt ép chị.

Chị đã tự quyết định lựa chọn giúp họ thì chị cũng phải gánh lấy hậu quả mà họ đã đối xử “tệ bạc” với chị, Vì đó mới thật là họ.

Hơn nữa, nếu nhìn sâu hơn, chúng ta thấy, khi chúng ta “giúp người có điều kiện”, dù là điều kiện đó như thế nào thì luôn luôn sự giúp đỡ đó sẽ có “biến chứng” về sau.

Trong tình yêu, tình thương hay tình người… khi đã có điều kiện thì sẽ tạo ra phản ứng trái chiều. Chỉ có tình thương, yêu không điều kiện mới có thể “thảnh thơi” mà hành xử.

3- Giải Quyết Vấn Đề

Chúng ta không thể giải quyết vấn đề, nếu vấn đề đó không thuộc về chúng ta. Khổ thay, nếu chúng ta cứ tiếp tục than trách, buồn phiền vì họ, mà họ lại chẳng bao giờ thấy, hay thay đổi, thì có khác gì chúng ta giao số mạng, hạnh phúc của chúng ta vào tay họ.

Chúng ta mất đi “chủ quyền” để tự mình giải quyết sự khổ đau của mình, và lại hoàn toàn lệ thuộc vào sự “thứ tha” hay “nhận lỗi” của họ.

Trên đời này, có mấy ai có đủ can đảm để nhận lỗi với người khác. Cho nên, có thể nói, chúng ta đang tự “giết chính mình”. Hay có thể nói, chúng ta đang tự “đào huyệt” chôn chính mình.

Đời người, mà chúng ta vấp phải 3 lỗi lầm lớn này thì qủa thật rất khổ đau, không lối thoát.

Cách hay nhất để lấy lại “chủ quyền” về mình, đó là: “nhìn sâu” để thấy rõ được lỗi lầm của mình để tự mình giải quyết. Nếu không thì suốt đời này, cho dù, chúng ta có gặp Bạn hay Bè, chúng ta cũng mãi mãi là người đau khổ.

Những gì tôi chia xẻ với chị đêm nay, chỉ là những gì tôi đang học và hành trong cuộc sống. Có thể cách giải quyết của tôi sẽ không giống như cách giải quyết hay mong muốn của chị. Nhưng vì chị hỏi đến, thì bổn phận của tôi là trả lời theo nhân sinh quan của tôi. Nếu có gì “va chạm” đến tự ái của chị, mong chị hãy bỏ qua cho.

Còn việc làm sao phân biệt bạn bè tốt hay xấu trong nghành Nail, thì tôi chịu, vì một người xấu hay tốt thì tùy theo nhận thức và đánh giá của mỗi người.

Với nhân sinh quan của tôi, vốn chẳng có ai là người xấu cả. Vì với ai, cũng là thầy dậy cho tôi cách ứng xử như thế nào là đúng nhất, là đẹp nhất. Không có người học trò nào, lại cho rằng, người thầy dậy cho mình là người xấu cả.

Chính vì nhân sinh quan này, nên gặp ai, tôi cũng chỉ thấy là người tốt, những người thầy luôn dậy tôi những bài học quý giá trong cuộc đời.

Nếu chị muốn thực tập nhân sinh quan như tôi thì đây là vài nét căn bản để chị nghiền ngẫm.

Trước tiên, chị phải hỏi lại chính chị, định nghĩa về Bạn là gì? và Bè là gì? Sau đó, chị “kiểm tra” lại nhận thức của chị về hai chữ “Bạn và Bè” thế nào. Chị “kiểm tra” lại cách hành xử của chị về Bạn với Bè thế nào?

Chị hãy hỏi lại chính bản thân của chị, xem chị giúp họ là giúp có điều kiện hay không có điều kiện. Nếu có điều kiện thì điều kiện đó là gì, và không có điều kiện thì không điều kiện gì.

Thương yêu mà không có sự hiểu biết đúng sự thật thì còn làm khổ nhau nhiều hơn là không thương yêu giúp đỡ nhau.

Chị phải tự hỏi chính chị, và chị phải trả lời thật thà với chính chị. Vì chỉ khi chị thật thà với chính chị, chị mới có cơ hội hiểu được chính chị một cách sâu sắc hơn.

Chị đừng quên, dù cho chị có những người bạn tốt nhất thì họ cũng chỉ đóng một vai trò “hỗ trợ” cho chị, chứ không thể thay thế quyết định cho chị được.

Thật ra, những gì chị chia xẻ, không phải chỉ xẩy ra trong nghành Nail, mà nó có mặt trong tất cả mọi nghành nghề. Nó đang có “mặt trên từng cây số” của xã hội.

Nếu chị không học nhìn sâu để hiểu được chính chị, chị không học cách ứng xử đúng đắn, thì chị làm nghành nghề nào, chị cũng sẽ vẫn bị đau khổ triền miên.

Chị nên nhớ: Cuộc sống luôn trao tặng cho chị những “món quà” là phiền não và thử thách. Và lạ thay… trong những phiền phức và thử thách đó, luôn hàm chứa những phương án giải quyết thích hợp nhất.

Công việc duy nhất của chị là “bình tỉnh và sáng suốt” để lựa chọn ra phương án nào thích hợp nhất cho chị.

Nếu chị không làm “tròn” công việc lựa chọn này, thì chị phải chịu trách nhiệm với chính mình, mà không phải một ai khác.

Mong chị hãy bình tâm suy nghĩ lại.

MUỐN BIẾT PHẢI HỎI, MUỐN GIỎI PHẢI HỌC

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN
TẢI MP3 – QUẢNG BẢO TÂM
TẢI MP3 – QUẢNG BẢO TÂM (HUẾ)

Bạn Thân Mến,

Ai trong chúng ta cũng không xa lạ gì với câu ca dao này: “Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học”. Nhưng hỏi ra sao, và học ra sao lại là những vấn đề.

Nếu chúng ta không cẩn thận trong việc đặt đúng câu hỏi thì không những chúng ta không thể đạt được kết quả, mà lắm khi, còn tạo ra rất nhiều hậu quả.

Có một người vừa mới chia tay người yêu, và trong lòng đầy những muộn phiền, oán trách. Nếu người này muốn giải quyết được những muộn phiền này, thì người đó phải biết cách đặt đúng câu hỏi để tìm ra gốc rễ của vấn đề. Nếu không, thì người đó sẽ chỉ làm tăng thêm sự oán trách, và có thể dẫn đến sự thù hận dai dẳng cả cuộc đời.

Thay vì, người đó hỏi Tại Sao tôi buồn, thì người đó hỏi làm sao tôi giải quyết sự buồn phiền này.

Chúng ta hãy dùng thí dụ để minh họa.

Làm sao tôi có thể quên đi được nỗi buồn này?

Khi Ý Thức của chúng ta nhận được câu hỏi này thì ít nhất chúng ta cũng có ba đến năm câu trả lời:

  • Mượn rượu giải sầu
  • Dùng chất khích thích để không suy nghĩ
  • Đi bôi nhọ, nói xấu người đó cho họ đau khổ

Qua những câu trả lời này, chúng ta sẽ thấy gì?

Rõ ràng, không có cách giải quyết nào mang đến cho chúng ta được cái chúng ta muốn là quên được. Cho dù, chúng ta có làm cả ba cách giải quyết cùng một lúc thì cũng bằng không. Ngược lại, chúng ta càng dùng chung nhiều cách thức thì chúng ta càng tạo ra nhiều hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu sau này.

Nếu mượn rượu giải sầu, mà nếu sầu kia không giải được, thì chúng ta dần trở thành con sâu rượu, chúng ta bị nghiện rượu, và cuối cùng, chúng ta làm cho gan của chúng ta bị sơ cứng. Chúng ta không phải chỉ khổ về Tâm, mà chúng ta còn khổ về thân nữa.

Tệ hại hơn, nếu chúng ta dùng những chất khích thích để “phê” đi Ý Thức, thì chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, chúng ta sẽ thành con nghiện. Khi đã thành con nghiện thì sự đòi hỏi về thuốc càng lúc càng gia tăng, vì cơ thể của chúng ta đã quen với những “đô” trước đó. Cho dù, chúng ta có núi vàng cũng không thể cung phụng cho những cơn nghiện này, huống chi, tài chính của mỗi cá nhân thường có giới hạn.

Cuối cùng, vì không đủ tài chính cung phụng cho cơn nghiện, chúng ta sẽ đi ăn trộm, hay ăn cướp, để cung phụng cho cơn nghiện, và cuối cùng, cuộc đời của chúng ta sẽ gắn liền với những song sắt trong nhà tù.

Đó là chưa kể, khi sử dụng qúa nhiều chất khích thích thì hệ thống thần kinh và các cơ quan nội tạng sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, khiến cho những suy nghĩ của chúng ta sẽ mông lung, không thực tế; hay sự xáo trộn của các tế bào và cơ quan tạo ra những chứng bịnh nan y.

Nếu như đi bôi nhọ, nói xấu người kia, cho họ khổ, thì có chắc gì là họ khổ không? Hay đôi khi, người kia còn coi thường, và càng giúp họ khẳng định lý do họ bỏ chúng ta là chính xác. Không những họ không đau khổ, mà còn vui mừng vì họ vừa thoát được “món nợ”, khi phải dính với chúng ta cả đời.

Đi bôi nhọ và nói xấu người kia, không những làm hạ phẩm giá con người của mình, mà còn tiếp tục khích thích những nguồn năng lượng tiêu cực trong Ngã Thức trở nên mạnh mẽ hơn. Khi những nguồn năng lượng này kết hợp với nhau thành nguồn năng lượng “không tên” thì những nguồn năng lượng này sẽ làm tê liệt Ngã Thức, và lúc đó, càng muốn quên lại thành càng nhớ.

Tai hại nhất là, khi nguồn năng lượng “không tên” này có mặt, thì luôn sử dụng những ý niệm tàn ác, độc hại, không những gây ra nguy hiểm đến tính mạng cho người và cho mình.

Qua thí dụ nêu trên, chúng ta thấy được sự nguy hiểm, khi chúng ta không biết đặt câu hỏi một cách chính xác, hay rõ ràng.

Vậy thì chúng ta phải đặt câu hỏi như thế nào mới đúng cách?

Muốn tìm ra nguyên nhân giải quyết một vấn đề thì chỉ có câu hỏi Tại Sao mới giúp chúng ta tìm ra được gốc rễ. Nếu chúng ta chưa, hay ít sử dụng câu hỏi Tại Sao, thì chúng ta cũng nên suy nghĩ lại.

Hãy dùng câu hỏi trong thí dụ nêu trên làm minh họa.

Tại sao tôi buồn?

Tôi buồn vì tôi mới bị người yêu bỏ

Tại sao người yêu lại bỏ?

Vì người đó nói không hợp với tôi

Tại sao lại không hợp?

Vì tôi hay nổi giận khi người kia không làm theo ý tôi

Tại sao lại nổi giận khi người kia không làm theo ý?

Vì nếu không làm theo ý tôi thì tôi sẽ trở nên yếu đuối trong mắt người đó

Vậy thì yếu đuối trên lĩnh vực nào?

Trên lĩnh vực tài chính vì tôi không làm ra nhiều tiền

Tại sao lại không làm ra nhiều tiền?

Vì tôi không có tài năng

Tại sao không có tài năng?

Vì tôi lười biếng.

Nếu chúng ta dừng lại ở đây, thì chúng ta thấy gốc rễ từ nỗi buồn, không phải vì chia tay người yêu, mà bắt nguồn từ sự lười biếng.

Khi biết được gốc rễ rồi, thì mới hỏi Làm Sao giải quyết được sự lười biếng này, và đi giải quyết.

Như vậy, qua cách đặt câu hỏi Tại Sao, chúng ta không những có thể tìm ra được nguyên nhân gây ra nỗi buồn, mà chúng ta còn hiểu được chúng ta một cách sâu sắc hơn.

Qua câu hỏi tại sao, chúng ta thấy hoàn toàn không liên quan gì đến việc người yêu bỏ chúng ta mà chúng ta buồn, nguyên nhân chính là sự lười biếng của chúng ta khiến cho chúng ta không chịu học hỏi, nên không có khả năng tạo ra tài chính, rồi sinh ra tự ty, và muốn che dấu sự tự ty, nên hay nổi giận với người yêu, khiến người đó không chịu được nữa, mới chia tay.

Như vậy, người yêu chia tay không phải là tác nhân chính, mà sự lười biếng mới là tác nhân chính. Cho nên, hình ảnh người yêu không cần phải quên cũng tự động không xuất hiện; vì đó không phải là đối tượng tạo ra nỗi buồn, mà nỗi buồn là hậu quả của sự lười biếng.

Qua hai thí dụ trên, chúng ta thấy được sự khác biệt trong cách đặt câu hỏi như thế nào để giải quyết vấn đề. Nếu chúng ta đặt sai câu hỏi, thì đó chính là lỗi của chúng ta, chứ không phải của ai khác.

Nhân tiện đây chúng ta cũng nên tìm hiểu hai chữ hiểu và biết khác nhau như thế nào? Nếu bạn để ý kỹ hơn, bạn sẽ thấy, ở đây, ông cha chúng ta đã rất tinh tế khi diễn tả về những trải nghiệm của các cụ. Trong câu này, chúng ta không thấy ông cha chúng ta dùng từ “muốn hiểu” mà lại dùng là “muốn biết”. Vậy hiểu là gì, và biết là gì?

Phần đông chúng ta hay lầm lẫn giữa hai chữ này. Chữ Hiểu có nghĩa là, khi chúng ta nghe một điều gì mà chưa có kinh nghiệm trải qua thì gọi là hiểu. Còn chữ Biết là chúng ta đã nghe qua và cũng đã trải qua, chúng ta có kinh nghiệm về việc đó rồi thì gọi là biết.

Như vậy, khi ông cha chúng ta dùng từ “muốn biết” có nghĩa là khuyên chúng ta phải trải qua, phải thực hành và phải có kinh nghiệm (biết) đặt câu hỏi cho đúng cách thì mới giải quyết được vấn đề, chứ không phải chỉ nghe, hiểu, rồi không làm gì hết với cái hiểu của mình.

Nếu như chúng ta chưa thực hành được, hay chưa có kinh nghiệm thì phải đi tìm những người có kinh nghiệm, họ đã trải qua rồi, hỏi họ, và nhờ họ dùng kinh nghiệm của họ để giúp cho mình, chứ đừng nên đi tìm người không có kinh nghiệm đã trải qua, hay chỉ mới nghe, hiểu, rồi đưa ra lời khuyên mà tin theo và làm theo.

Đó chính là ý nghĩa của câu “muốn biết thì hỏi”. 

Vậy còn “muốn giỏi thì học” có ý nghĩa gì?

Đơn giản, ai trong chúng ta cũng có thể nghĩ ra là chúng ta muốn giỏi thì chúng ta phải học hỏi nhiều. Nhưng học nhiều cũng chưa chắc là giỏi, vì trong học có cả ngàn cách học.

Có cách học thuộc lòng, có cách học suy luận, có cách học trải nghiệm.v.v. vậy cách học nào mới giúp cho chúng ta giỏi?

Muốn học giỏi thì chúng ta cần phải có phương pháp.

Chúng tôi còn nhớ thời khi đi học đại học. Ngày khai giảng, vị giảng sư cho chúng tôi biết loại sách giáo khoa nào chúng tôi cần.

Với những ngày đầu, hầu như tất cả các sách giáo khoa sẽ là phần giới thiệu. Hơn nữa, vị giảng sư vì muốn làm quen với học sinh, nên cũng không quá đi sâu vào chi tiết, cho nên, đa số những ngày đầu này với sinh viên là sướng nhất, vì ít phải học bài.

Nhưng với chúng tôi thì lại hoàn toàn khác. Chúng tôi lại rất “bận rộn” trong việc đọc trước một chương (chapter). Chúng tôi bắt đầu đọc lướt qua xem có thể hiểu được bao nhiêu, và những chỗ không hiểu thì ghi lại những câu hỏi.

Đến khi vào lớp và khi giảng sư giảng bài, trong khi, các bạn khác chăm chú nghe và ghi chép, thì chúng tôi vì đã có kinh nghiệm đọc qua, nên chỉ chú trọng vào những câu hỏi mà chúng tôi ghi lại, và hỏi vị giảng sư. Nhờ vậy, chúng tôi luôn hiểu được bài một cách trọn vẹn nhất.

Phương pháp mà chúng tôi áp dụng vô cùng đơn giản. Nghĩa là, khi có được sách giáo khoa thì chúng tôi bỏ chút thời gian ra đọc ngay chương đầu. Vì không bị thời gian “thúc hối” nên Ý Thức của chúng tôi có thể thoải mái phân tích và đào sâu vào vấn đề.

Nếu vấn đề đó chúng tôi đã có kinh nghiệm thì không phí thời gian vào đó, ngược lại, chúng tôi sẽ chú trọng vào những vấn đề chưa hiểu được, và chọn ra những câu hỏi chính xác để tìm ra đáp an cho câu hỏi. Sau đó thì ghi lại những câu hỏi đó trong một cuốn sổ.

Chính vì nhờ có sự chuẩn bị trước, nên tất cả những chủ đề được giảng sư giảng, chúng tôi như được “ôn lại” trong khi các bạn khác thì mới học. Cho nên, chúng tôi hiểu rõ hơn, và những phần chưa hiểu rõ, chúng tôi cũng đã có sẵn những câu hỏi chọn lọc để hỏi vào chi tiết.

Nhiều giảng sư cũng rất ngạc nhiên và cho rằng chúng tôi thông minh, vì thường đặt những câu hỏi khó cho họ, nhưng họ lại rất hứng thú vì chủ đề của họ có đứa học trò biết “thưởng thức”, nên thường, họ có những “cảm tình” đặc biệt với chúng tôi. Nhưng bạn biết, chúng tôi chẳng có thông minh gì cả, mà chỉ biết dùng phương pháp học đúng đắn mà thôi.

Sau khi đặt những câu hỏi và được giảng giải xong thì chúng tôi ghi lại những lời giảng giải đó dưới phần các câu hỏi.

Đến kỳ thi giữa khóa hay cuối mùa thì chỉ cần đọc lại những câu trả lời đã được giảng sư giải thích mà không cần phải đọc lại cả một cuốn sách dầy, với cả lô chữ với thời gian thúc bách.

Y như rằng, hầu như hơn 90% những đề thi thường “lọt” vào trong những cuốn sổ mà chúng tôi ghi lại.

Với phương pháp học này, chúng tôi chỉ tốn thời gian lúc ban đầu đọc lướt qua chương đầu, và sau đó, đặt ra những câu hỏi. Và khi các bạn bắt đầu học chương đầu thì chúng tôi lại đọc lướt chương hai và đặt câu hỏi.

Chính nhờ cách học có phương pháp này, giúp chúng tôi rút ngắn được thời gian ôn thi, chủ động trong việc học, và quan trọng nhất là, chúng tôi sử dụng Ý Thức để đào sâu và hiểu trọn vẹn được những gì chúng tôi đang học một cách rõ ràng.

Dĩ nhiên, mỗi người trong chúng ta ai cũng có cách học riêng. Nhưng muốn giỏi thì sự học hỏi của chúng ta phải hướng về chiều sâu và cần có sự kiểm nghiệm và thực nghiệm để hiểu đúng sự thật.

Nếu không, chúng ta sẽ không thể ứng dụng những gì chúng ta học được một cách tinh tế nhất.

GIỚI ĐỊNH TUỆ

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN
TẢI MP3 – TÂM TỪ

Chiều nay, chỉ có mình Nhật Minh đến thăm ông chú. Sau khi lễ phép chào ông chú, Nhật Minh ngồi xuống đối diện, rồi nói:

Thưa chú, kể từ ngày gặp chú, cháu càng ngày càng hiểu về cháu nhiều hơn. Sau những buổi nói chuyện với chú về, cháu đã quyết định, dừng lại tất cả việc sử dụng kinh nghiệm của người khác, và bắt đầu bằng sự trải nghiệm của chính mình.

Trong qúa trình tự trải nghiệm này, cháu cảm nhận được rất nhiều điều mới lạ. Chiều nay, cháu muốn đem những điều trải nghiệm mới lạ này để chia xẻ cùng chú, không biết có được không?

Dĩ nhiên là được. Tôi xin ngồi lặng yên để lắng nghe sự trải nghiệm của bạn. Ông chú nói.

Thưa chú, khi nói đến Thiền, từ xưa cho nay, từ sách vở cho đến người thực tập, đều nhấn mạnh đến 3 từ: Giới, Định, Tuệ.

Nhiều người định nghĩa rằng: Giới là Giới luật, Định là ngừng sự suy nghĩ, và Tuệ là ánh sáng; và họ đã dùng những định nghĩa này để đi tìm về Bản Thể.

Cháu cũng là một trong những người như họ. Cháu cũng đã dùng những định nghĩa đó, và đã trải qua gần 10 năm, nhưng cháu vẫn cứ loay hoay, vướng mắc.

May nhờ nói chuyện với chú, cháu mới nhận ra, khi chúng ta không biết được chính xác định nghĩa của một điều gì đó thì chúng ta sẽ dễ dàng tạo ra sự nhận thức sai lầm. Chính sự nhận thức sai lầm này, mới gây ra sự vướng mắc, ràng buộc, và tạo ra sự khổ đau cho con người.

Thế nên, cháu đã tự hỏi lại chính mình, Giới là gì? Định là gì? và Tuệ là gì? và dùng sự quan sát, phân tích và nhìn sâu để nhìn vào định nghĩa của Giới, Định, và Tuệ.

Khi quan sát và nhìn sâu vào Giới, cháu nhận ra, Giới không chỉ có nghĩa là giới hạn, hay khoanh vùng hẹp lại, mà Giới còn có nghĩa là Những Điều Kiện Cần Có và Sự Chấp Nhận để đạt được một điều gì đó.

Cũng như Định, có nghĩa là duy trì, không xao động, không thay đổi, chứ không phải là ngừng lại sự suy nghĩ. Ngừng lại sự suy nghĩ chỉ là ứng dụng của Định chứ không phải định nghĩa của Định.

Và định nghĩa của Tuệ, cũng không phải là ánh sáng mà là khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp, và quan trọng nhất là Nhìn Sâu. Cũng từ sự quan sát nhìn sâu này, cháu cũng phát giác ra một sự sai lầm lớn nhất của cháu từ trước tới nay, đó là cháu nghĩ Trí cũng là Tuệ.

Cháu đồng ý rằng, muốn giải quyết bất cứ mọi vấn đề nào trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng phải có đầy đủ Giới, Định, Tuệ. Đó là 3 yếu tố cốt lõi không thể thiếu được. Chỉ cần thiếu một trong ba thì sẽ rơi vào bế tắc và vướng mắc.

Nhưng nếu chúng ta sắp xếp sai lệch cách vận hành, thay vì được kết qủa thì chúng ta lại phải gánh hậu quả. Chính vì vậy, mà cuộc sống của chúng ta mang nhiều dấu ấn của khổ đau hơn An Lạc.

Bản thân cháu, khi mới bắt đầu thực tập Thiền đã bị hướng dẫn lệch lạc về định nghĩa, sai về thứ tự, về cách vận hành. Thí dụ như:

Các diễn giả dậy rằng, nếu muốn thực hành Thiền thành công, việc đầu tiên, người thực tập, cần phải giữ Giới một cách nghiêm chỉnh. Nghĩa là phải đặt ra những kỷ luật và ép mình vào khuôn khổ.

Chẳng hạn như: mỗi ngày phải dành ra một tiếng để ngồi Thiền, và khi ngồi Thiền, phải giữ lưng cho thẳng; có nơi, phải ngồi theo thế kiết già hoặc bán già; có nơi, cho phép ngồi trên gối hay ghế v.v.

Trong khoảng thời gian ngồi thiền một tiếng đó, nếu có tê chân, mỏi vai, đau lưng, cũng ráng chịu, và không nên động đậy. Bởi vì, theo nhận thức của họ, đó là phương pháp điều Thân trước khi điều Tâm. Họ quan niệm rằng, khi chúng ta có thể làm chủ được Thân, thì chúng ta sẽ có thể làm chủ được Tâm, vì Thân với Tâm là một.

Trong qúa trình giữ Giới bằng cách ngồi Thiền bắt buộc đó, người thực tập bắt đầu một qúa trình gọi là Định. Và cái Giới trong Định là phải tìm mọi cách để giữ cho Tâm Không Suy Nghĩ Gì Cả.

Nếu chẳng may, trong lúc đang tìm cách duy trì Tâm không suy nghĩ mà có một ý niệm nào đó phát sinh, người thực tập phải tìm cách đè nén nó xuống, hay tìm cách diệt nó đi.

Nếu không đủ khả năng để diệt, hay đè nén nó thì dùng hình thức “trốn chạy” như: chú tâm vào một việc khác: nghe tiếng chim, tiếng suối, tiếng nhạc êm dịu, v.v. Và họ, cho đó là cách làm hợp lý.

Rõ ràng, mục đích của việc thực tập Thiền là đi giải quyết các vấn đề Một Cách Rốt Ráo, dù vấn đề đó là vấn đề gì. Vấn đề đó có thể liên quan đến cảm tình, cảm giác, cảm thọ, cảm thân, hay đi tìm về Bản Thể, v.v.

Vậy tại sao, khi ý niệm hay cảm giác nẩy sinh trên bề mặt của ý thức, chúng ta lại không trực tiếp đi giải quyết mà lại tìm cách đè nén, tìm cách tiêu diệt; và khi không thể thì lại trốn chạy qua cách chú tâm vào việc khác.

Điều này, khi nghĩ kỹ lại, cháu thấy nó mâu thuẫn và nghịch lý qúa, phải không chú? Nhưng cũng tức cười, cháu đã tin, và đã làm theo trong một thời gian khá dài.

Không ít người, trong đó cũng có cháu, đã lý luận rằng: khi chúng ta chú tâm vào nghe tiếng chim hót hay nhạc êm dịu, v.v thì ý niệm, hay cảm giác phiền não, hay khổ đau kia sẽ không có mặt; và nếu nó không có mặt thì chúng ta đâu có khổ đau.

Từ lý luận đó, chúng ta tin rằng, nếu chúng ta cứ tiếp tục đánh lừa chính chúng ta, bằng cách trụ càng lâu trong cái mà chúng ta đang thích hướng về đó sẽ giải quyết được sự khổ đau, phiền não đến tận gốc rễ.

Hoặc trong qúa trình Thiền Định, chúng ta đặt ra một cái Giới Không Tưởng, đó là Giữ Cho Tâm Không Suy Nghĩ. Và chúng ta tin rằng, nếu làm như vậy, chúng ta sẽ chấm dứt được sự phiền não, khổ đau. Bởi vì, Tâm Chúng Ta Không Suy Nghĩ Gì Hết. Có nghĩa là, chúng ta không có khổ đau.

Sự thật đã chúng minh rất rõ ràng, cho dù, chúng ta có cố gắng giữ cho Tâm Chúng Ta Không Suy Nghĩ, hay chúng ta đè nén chúng, hay chúng ta trốn chạy theo cách chú Tâm vào một điểm khác và cố trụ trong đó càng lâu càng tốt, cuối cùng, chúng ta cũng phải trực tiếp đối diện và đương đầu với phiền não và khổ đau đang xẩy ra.

Vì sao? vì trong thực tế, sự khổ đau không phải chỉ nẩy sinh từ trong nội tâm của chúng ta, mà còn đến trùng trùng từ ngoại cảnh.

Nếu sự khổ đau đến từ trong nội tâm của chúng ta thì cách đổi hướng, hay đánh lừa suy nghĩ, có thể áp dụng. Nhưng nếu đến từ ngoại cảnh thì cách ứng dụng này gần như không có hiệu quả. Và sự thật cũng rất rõ ràng, chúng ta bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh liên tục. Không nói đâu xa, bản thân cháu chính là nạn nhân trong cách lý luận, và thực hành này.

Qua quan sát, cháu nhận thấy, khi một cảm giác phiền não hay khổ đau mới trồi lên trên bề mặt của ý thức thì sự tàn phá của nó nhẹ hơn; nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục dùng sai phương pháp, chúng ta cứ tiếp tục đè nén nó, việc làm đó, giống như, chúng ta đang ép lò xo vậy, khi nó bật dậy thì sức tàn phá của nó mạnh gấp trăm lần.

Thật tuyệt vời! Vậy còn Tuệ, định nghĩa theo cách cũ là gì, và làm sao dùng Tuệ? Ông chú hỏi.

Nếu lúc trước, mà chú hỏi câu này, cháu sẽ trả lời, nếu có thể duy trì được Cái Tâm Không Suy Nghĩ, hay chú tâm vào hơi thở thì ánh sáng của tuệ sẽ phát sinh. Khi có ánh sáng của Tuệ thì sẽ giải quyết được phiền não khổ đau.

Nhưng bây giờ thì cháu sẽ trả lời khác.

Định nghĩa của Tuệ cũng không phải là ánh sáng, mà là khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp và quan trọng nhất là Nhìn Sâu. Như lần trước chú đã nhắc nhở, chúng ta đã có sự nhầm lẫn khi xem phương tiện là cứu cánh.

Qua quan sát, cháu cũng thấy đúng như vậy. Rõ ràng, sự An Lạc chỉ có thể có, khi chúng ta biết sử dụng khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp, nhìn sâu, để tìm ra cách giải quyết vấn đề liên quan đến khổ đau.

Khi vấn đề đó được giải quyết thì sự khổ đau biến mất và chúng ta có được sự An Lạc. Nếu như chúng ta cũng quan sát, phân tích, tổng hợp nhưng với cái nhìn Nông (Trí) thì sự khổ đau có thể biến mất trong một giai đoạn ngắn, rồi sau đó trở lại, và có thể sẽ mạnh mẽ hơn khiến chúng ta khổ đau dài hơn.

Hay nói một cách rõ ràng hơn, cách giải quyết của Trí là cách giải quyết mang tính tạm thời và thường mang đến hậu quả.

Ngược lại, với cách giải quyết của Tuệ, qua sự quan sát và nhìn sâu, có thể tìm được nguyên nhân đích thực gây ra sự khổ đau, và khi chấm dứt ngay tại cái nhân đó thì An sẽ có mặt.

Hay có thể nói rằng, cách giải quyết của Tuệ là cách giải quyết mang tính cách rốt ráo, và thường đem đến Kết Quả.

Qua sự trải nghiệm mới này của cháu, thì cháu lại dùng Định trước Giới, nghĩa là, khi có một ý niệm bắt đầu xuất hiện trên bề mặt của ý thức, thì trước tiên, cháu Xác Định ý niệm đó đang có mặt trên ý thức là gì, sau đó, cháu dùng Giới để tìm ra những điều kiện gì cần có để giải quyết ý niệm đó.

Chính nhờ đặt ra những điều kiện, cho nên. khi sử dụng Tuệ, cháu mới nương theo những điều kiện đó để quan sát, phân tích, tổng hợp, nhìn sâu, vào trong ý niệm.

Thí dụ, Cháu đang ngồi một mình, và cháu có cảm giác Chán. Thay vì, tìm cách trốn tránh như: tìm cách đè nén cảm giác Chán. Cháu bắt đầu xác ĐỊNH sự có mặt của cảm giác Chán, và bắt đầu đi tìm những điều kiện cần có (Giới) để giải quyết cái Chán.

Tuệ khi tiếp nhận câu hỏi của Giới như: mình cần có những điều kiện nào để giải quyết triệt để nỗi Chán này? Và bắt đầu nương theo câu hỏi từ Giới, bằng sự quan sát, hay phân tích, hay nhìn sâu v.v.

Đôi khi Tuệ chỉ dùng một phần trong khả năng, cũng có khi, lại kết hợp với nhiều khả năng, tùy thuộc vào sự nặng hay nhẹ của Chán.

Nếu Tuệ lựa chọn bằng sự quan sát, thì Tuệ sẽ chú tâm theo dõi xem Chán sẽ ảnh hưởng như thế nào, và ảnh hưởng đến phần nào trong cơ thể v.v. Hễ Chán đi tới đâu thì sự quan sát dõi theo đến đó.

Nếu đó là cơn Chán nhẹ thì dưới sự quan sát của Tuệ, cơn Chán sẽ tự tan biến, và không bao giờ trở lại. Nếu cơn Chán nặng hơn, mà sự quan sát không thể giải quyết được thì sự quan sát bắt đầu kết hợp với sự Nhìn Sâu. Khi Nhìn Sâu có mặt thì lập tức đặt câu hỏi Tại sao.

Thí dụ:

Tại sao bạn Chán?

Tôi Chán vì Tôi không có việc gì làm.

Tại sao Bạn không có gì làm?

Tôi không có gì làm, vì tôi không biết làm gì cả.

Tại sao Bạn không biết làm gì cả?

Vì tôi sống không có mục đích.

Vậy mục đích của bạn là gì?

Mục đích của tôi là sống An vui.

Vậy việc làm gì sẽ khiến bạn vui?

Đi nhậu nhẹt với bạn bè.

Nếu như khi đi nhậu nhẹt, chẳng may có cuộc ẩu đả khiến cho bạn bị tàn tật, bạn có vui không?

Không, không những không vui mà còn đau khổ nữa.

Tại sao bạn đau khổ?

Vì tôi đang lành lặn mà lại trở nên tàn tật.

Vậy, nếu cho bạn lựa chọn giữa lành lặn và tàn tật thì bạn chọn cái nào?

Dĩ nhiên là lành lặn.

Tại sao bạn lại không chọn tàn tật?

Vì khi tôi bị tàn tật, tôi sẽ tự ty mặc cảm, mà khi tôi tự ty mặc cảm thì tôi rất đau khổ.

Như vậy, nguyên nhân gây ra đau khổ cho bạn là từ sự tự ty, mà sự tự ty có trong bạn là từ sự tàn tật, và sự tàn tật thì bắt nguồn từ sự đi nhậu nhẹt. Nếu bạn không muốn sau này bạn khổ dài dài thì bạn sẽ làm sao?

Thì tôi sẽ không bao giờ đi nhậu nhẹt nữa.

Bạn có chắc không? Biết đâu sau này bạn đổi ý thì sao?

Tôi chắc chắn.

Bạn dựa trên điều gì để bạn chắc chắn?

Tôi dựa vào quyền lợi của tôi. Nếu chỉ vì một bữa nhậu nhẹt, và nếu chẳng may tai nạn xẩy ra khiến tôi bị tàn tật cả đời thì chả dại gì mà tôi đi nhậu cả.

Ngoài nhậu nhẹt ra, bạn thích làm gì nữa?

Tôi thích đọc sách.

Đọc sách có lợi gì cho bạn?

Cho tôi, mở mang kiến thức.

Vậy kiến thức nào, bạn đang thiếu mà bạn cần mở mang?

Kinh nghiệm sống…

Thưa chú, nếu cứ tiếp tục, thì không biết đến bao giờ dừng. Nhưng Cháu có thể khẳng định một điều, khi cảm giác Chán bị “cuốn” vào trong nhìn sâu bằng những câu hỏi Tại Sao thì Chán không còn là một ý niệm xấu cần phải loại trừ hay loại bỏ.

Mà cảm giác Chán đã được chuyển hóa thành một công cụ sắc bén, giúp cho cháu có thể nhìn sâu hơn vào chính mình, có thể xác định được mục đích của mình là gì. Có thể nhìn sâu để nhìn ra những hậu qủa, hệ lụy từ một việc mà mình vẫn xem như là sở thích, nhưng không biết rằng, sở thích đó lợi hại như thế nào.

Trong những khả năng của Tuệ, thì khả năng Nhìn Sâu với sự bắt đầu bằng câu hỏi Tại Sao, thật là lợi hại. Hầu như tất cả những sự khổ đau trên cuộc đời này, nếu biết Nhìn Sâu thì đều có thể giải quyết một cách triệt để mà không cần phải dùng đến sự cố gắng đè nén hay tiêu diệt.

Này người bạn trẻ, đúng vậy.

Khi chúng ta biết ứng dụng Nhìn Sâu và biết cách đặt câu hỏi Tại Sao một cách sâu sắc, thì khả năng này của Tuệ sẽ giúp chúng ta giải quyết tất cả những sự khổ đau của một kiếp người.

Nếu bạn nhìn sâu và kỹ hơn, bạn sẽ thấy, hễ là con người, dù là trẻ sơ sinh cho đến ông bà cụ sắp mãn phần, không ai trong chúng ta không đi tìm sự An Vui cả. An Vui có thể nói, đó là mục đích lâu dài nhất, không hề bị đứt đoạn của một đời người.

Dĩ nhiên, trong đời người, chúng ta có nhiều mục đích cần phải thực hiện. Nhưng cho dù mục đích đó có là gì đi chăng nữa; cho dù, chúng ta có hoàn thành bao nhiêu mục đích đi chăng nữa; thì ngay sau khi chúng ta chấp nhận đã hoàn thành mục đích đó, nếu chúng ta tinh ý, chúng ta sẽ nhận ra cái cảm giác lúc đó cũng chỉ là sự thỏa mãn, An Vui.

Cho nên, cách hay nhất là chúng ta nên xác định lại mục đích của chúng ta cho rõ ràng; sau đó, chúng ta sẽ dùng Giới để duy trì mục đích đó, và sử dụng Tuệ để đi giải quyết vấn đề.

Thí dụ, An Vui là sự khao khát của con người bất kể tuổi tác. Cho dù, chúng ta có làm gì thì điều chúng ta đạt được khi thành công cũng là An Vui.

Cho nên, mục đích mà chúng ta nên xác Định chính là An Vui. Khi chúng ta có một vấn đề cần giải quyết thì chúng ta dùng Giới để xác định lại mục đích của chúng ta là gì, và vấn đề mà chúng ta đang gặp phải, có thay đổi mục đích của chúng ta không? Nếu có thay đổi, chúng ta dùng giới để duy trì thời gian giải quyết vấn đề. Sau đó, dùng Tuệ đặt những câu hỏi Tại Sao để tìm ra nguyên nhân tạo ra vấn đề, kế tiếp là giải quyết vấn đề bằng những câu hỏi Làm sao, và cuối cùng, chọn thời gian thích hợp để giải quyết vấn đề.

Nếu chúng ta làm được như vậy và thực tập thành một thói quen thì chúng ta sẽ có nhiều An Lạc hơn trong cuộc sống.

Hay quá chú ơi, chú đã rút gọn lại thành một phương pháp đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành hơn nhiều. Cám ơn Chú rất nhiều.

Tôi cũng cám ơn bạn rất nhiều.

Sao chú lại cám ơn cháu, cháu đâu có làm gì đâu?

Bạn thật khiêm tốn.

Này người bạn trẻ, bạn có biết không, chính nhờ sự nhìn sâu của bạn, mà bạn đã đưa định nghĩa của Giới, Định, Tuệ về đúng với ý nghĩa của nó.

Đây có thể được coi là một nền tảng vững chắc cho những ai muốn tự mình chuyển hóa khổ đau thành An Lạc.

Dĩ nhiên, trong quá trình đi tới Bản Thể của mỗi người, chúng ta đều có quyền lựa chọn phương tiện nào thích hợp nhất với mình, nhưng đừng bao giờ lầm tưởng: phương tiện là cứu cánh.

Tất nhiên, phương pháp Định, Giới, Tuệ của bạn có thể ứng dụng trong hành trình đi từ Bản Ngã tới Bản Thể, và sẽ giúp cho người đi tìm tới Bản Thể tránh được nhiều sai lầm trong nhận thức.

Nhưng nếu trong qúa trình đi từ Bản Thể về Bản Ngã thì sự ứng dụng sẽ vô cùng. Bạn có thể biến Định, Giới, Tuệ, thành Tuệ, Định, Giới, hay Tuệ, Giới, Định, hay Giới, Tuệ, Định v.v. tùy theo môi trường hoàn cảnh.

Tôi tin rằng, với khả năng của bạn, bạn sẽ biết cách ứng dụng này trong một tương lai rất gần.

Chú có thể cho cháu một thí dụ về cách dùng Tuệ, Định, Giới không?

Thí dụ, bạn đang đi trên đường và bạn chứng khiến một cảnh đụng xe giữa ngã tư đường do một người cố vượt đèn đỏ đụng vào một người đang chạy đèn xanh.

Nếu bạn bắt đầu dùng sự quan sát, phân tích, bạn có thể biết được nguyên nhân gây ra tai nạn phát xuất từ sự bất an đến từ một người, hoặc cả hai người. Và từ sự bất an của một người hay cả hai đã gây ra một hậu quả, tạo ra thương tật và đau khổ cho người. Nếu bạn dừng lại ở đây, và không tiếp tục quan sát và nhìn sâu thì bạn đang dùng Trí.

Nếu bạn tiếp tục nhìn sâu nữa, bạn sẽ thay thế người đang bị thương tích kia là bạn. Bạn sẽ cảm được nỗi đau mà bạn phải trải qua và chịu đựng nỗi đau trong tương lai nếu là thương tật vĩnh viễn.

Dĩ nhiên, trên thực tế, cơ thể bạn không trải qua sự đớn đau, thương tật. Nhưng qua sự quan sát và nhìn sâu, bạn đang trải nghiệm sự đớn đau từ cơ thể bạn.

Chính vì có sự trải nghiệm sự đớn đau trong thân xác bạn, và bạn không muốn điều đó xẩy ra. Cho nên, bạn quyết ĐỊNH đặt ra một kỷ luật (Giới) mà bạn phải tuân theo, đó là, bạn chỉ lái xe trong trạng thái bạn An. Nếu khi bạn có bất an thì bạn sẽ dừng việc lái xe lại. Vì sao? Vì nếu không giữ Giới, thì bạn sẽ là người gánh lấy sự khổ đau do sự bất An gây ra.

Cho nên, một người khi sử dụng đến Tuệ, họ luôn luôn kết hợp giữa Giới và Định một cách chặt chẽ. Vì vậy, tại sao họ có thể kéo dài được trạng thái An.

Ngược Lại, vì Trí tuy cũng có sự quan sát, phân tích nhưng thiếu sự nhìn sâu để đặt mình vào. Vì vậy, không dùng Định và Giới. Cho nên, tuy thấy người ta bị thương tật trong tai nạn, nhưng lại không biết ứng dụng điều đó cho mình.

Hoặc đôi khi, còn cười mỉa mai cho rằng, người kia lái xe quá kém mới gây ra tai nạn, chứ mình lái xe cừ hơn sức mấy mà có chuyện đó xẩy ra.

Thực tế, trên đời này, chưa ai lái xe mà chưa từng xẩy ra tai nạn cả. Có chăng, nó Chưa Xẩy Ra cho mình, chứ không phải Không Xẩy Ra.  Diễn dịch định nghĩa “Chưa Xẩy Ra” thành “Không Xẩy Ra” đó là một sự mê lầm lớn. Và ai trong chúng ta có nhận thức mê lầm này, chúng ta phải trả giá cho sự mê lầm đó thôi.

Thật vô cùng thú vị. Cháu cám ơn chú. Giờ thì cháu biết cháu sẽ làm gì. Nhật Minh nói.

Xa xa vọng về, tiếng của những đứa trẻ đang nô đùa, tiếng cười dòn tan, rộn rã. Chàng thanh niên đứng dậy, kiếu từ, và hẹn gặp lại ông chú chiều mai.

TỰ TIN (NIỀM TIN)

album-art

00:00

TẢI MP3 – TRƯƠNG THU HUYỀN

Chiều nay, Nhật Minh bận đi họp, nên chỉ có Diệu Hiền và Hoàng Trang đến thăm ông chú. Vừa đến chỗ ông chú ngồi, cả hai, Diệu Hiền và Hoàng Trang đã tự động phân ra ngồi hai bên cạnh ông chú. Hoàng Trang lên tiếng:

Chú ơi, ai trong chúng ta cũng cần có tự tin, vì khi có tự tin, chúng ta mới có thể làm được những điều chúng ta mong muốn.

Nhà Tâm Lý học, Albert Bandura, đã xác định tính tự tin vào năng lực bản thân là niềm tin của một người trong khả năng thành công trong những tình huống cụ thể hoặc hoàn thành một nhiệm vụ. Cảm giác tự tin vào năng lực bản thân của một người đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận các mục tiêu, nhiệm vụ hay thách thức.

Vậy theo như sự quan sát và nhìn sâu của chú thì có phương pháp nào giúp cho chúng ta có thể đạt được tự tin không chú?

Trước khi chúng ta nói đến những phương pháp về Tự Tin thì chúng ta cũng nên tìm hiểu về định nghĩa hai chữ Tự Tin là gì?

Tự là chính mình, Tin là nguồn năng lượng có trong Ngã Thức, diễn tả một trạng thái chấp nhận một điều gì, hay vật gì, hay người nào đó. Như vậy, Tự Tin có nghĩa là chính mình chấp nhận một điều gì, vật gì, hay người nào đó qua sự quan sát, phân tích, so sánh, v.v. từ Ý Thức.

Phần đông chúng ta hay “đánh đồng” hai chữ “tự tin” là để đánh giá về khả năng của chúng ta, hơn là hiểu đúng với định nghĩa.

Nếu cần phải đặt lại danh từ cho hai chữ “tự tin” mà chúng ta “đánh đồng”, thì chúng ta nên gọi là Khả Tin, nghĩa là lòng tin vào khả năng của mình; và trả lại định nghĩa cho hai chữ Tự Tin, khi chúng ta lại “đánh đồng” bằng hai chữ niềm tin. Như vậy mới đúng nghĩa.

Nhưng vì tôn trọng quyền diễn dịch của mọi người, chúng ta vẫn sử dụng hai chữ tự tin tức là khả năng, và niềm tin thay cho định nghĩa của tự tin.

Theo định nghĩa phổ thông, thì tự tin là khả năng của một cá thể, và niềm tin, có nghĩa là, sự chấp nhận một điều gì hay vật, người nào, theo ý chúng ta muốn. Hay ngắn gọn thì tự tin là ngọn, và niềm tin là gốc.

Nếu chúng ta là người có kinh nghiệm, chúng ta biết, muốn phát triển ngọn thì chúng ta nên bắt đầu từ gốc. Bởi vì, nếu gốc mà tróc rễ thì ngọn cũng không còn.

Vậy làm sao chúng ta có thể phát triển được niềm tin? Nếu muốn phát triển được niềm tin, chúng ta phải sử dụng đến sự vận hành của các thức để hiểu được niềm tin được tạo ra như thế nào, và tại sao Ngã Thức của chúng ta lại hay sử dụng niềm tin.

Trong chín thức, chúng ta đã phân chia rạch ròi những chức năng khác nhau của các thức. Trong đó, Ngã Thức làm chủ Ý Thức, và sử dụng Ý Thức để quan sát, phân tích, tổng hợp, nhìn nông hay sâu. Trong Ý Thức, vì có qúa trình quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, nên chúng ta có sự chọn lọc.

Nhưng trong Ngã Thức, chúng ta chỉ có sự Lựa Chọn. Có nghĩa là, Ngã Thức của chúng ta chỉ có thể lựa những kết quả do Ý Thức phân tích, rồi chọn trong những kết quả đó cái nào tốt nhất, có lợi nhất cho Ngã Thức của chúng ta, và tin vào điều đó để ứng xử trong cuộc đời.

Chính vì vậy, niềm tin mà chúng ta có được bắt đầu từ Ý Thức, là nguồn cung cấp những dữ liệu cho Ngã Thức lựa chọn. Như vậy, nếu muốn chỉnh lại niềm tin có đúng với sự thật hay không thì chúng ta phải quan sát về Ý Thức.

Trong chín thức, chúng ta biết, chức năng của Ý Thức có phần nhìn nông và nhìn sâu. Khi nhìn nông thì chúng ta không biết được kết quả, nên phải dùng sự phỏng đoán hay tưởng tượng, và khi nhìn sâu, chúng ta cần sự kiểm chứng và thực chứng.

Thí dụ, nếu tôi hỏi bạn có biết ăn Igwava không? Nếu bạn không biết tiếng Xhosa thì có ba trường hợp sẽ xẩy ra.

Trường hợp một: bạn không biết định nghĩa chữ Igwava là gì, nên bạn không thể khởi được ý niệm về trái đó là gì, nên bạn sẽ không có hành động, ăn ra làm sao?

Trường hợp hai: tuy bạn không biết định nghĩa của Igwava là gì, nhưng bạn lại sử dụng sự phỏng đoán và tưởng tượng ra Igwava là trái vả hay trái vải (vì có âm cuối là wava).

Nếu như qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của Ý Thức đưa ra kết quả, rồi đưa về kho của Ngã Thức, và Ngã Thức sau khi lựa chọn và tin vào điều đó. Đến sau này, có người nói với bạn, định nghĩa của Igwava là trái ổi thì bạn có thể vì tự ái, hay vì sự tự tôn, mà quyết định cãi đến cùng, vì đó là niềm tin của bạn, và bạn tin là bạn đã tin đúng.

Trường hợp ba: với một người có sự quan sát và nhìn sâu, họ không làm như trường hợp hai, mà họ sẽ đi tra cứu, tìm tòi, cho đến khi, họ biết đúng được định nghĩa Igwava là gì thì họ mới tin.

Với họ, tất cả cái gì khi qua sự quan sát, phân tích, so sánh, v.v của Ý Thức, đó chỉ là những thông tin và dữ liệu cần phải kiểm chứng và thực nghiệm, cho tới khi có kết quả rõ ràng. Họ chỉ tin vào kết quả qua sự kiểm nghiệm, chứ họ không tin vào thông tin và dữ liệu hay sự phỏng đoán hay tưởng tượng.

Sự khác biệt giữa trường hợp thứ hai và thứ ba, trong phần chín thức, chúng ta đã phân trường hợp thứ hai là Trí, và trường hợp thứ ba là Tuệ.

Như vậy, trong Ý Thức có hai phần cho Ngã Thức của chúng ta lựa chọn. Chúng ta có thể sử dụng Trí hay sử dụng Tuệ tùy theo Ý muốn của Ngã Thức của mỗi cá thể.

Tiếc thay, đa số chúng ta lại thích sử dụng Trí hơn Tuệ; cho nên, Ngã Thức của chúng ta thường rơi vào những niềm tin trên sự phỏng đoán hay tưởng tượng, mà không đúng sự thật.

Sự khổ đau hay những hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu là chuyện tất nhiên. Vì khi tiếp xúc với sự thật, chúng ta không thể dùng được niềm tin của chúng ta nữa, hay cái gốc của chúng ta đã tróc gốc thì sự thiếu tự tin nơi bản thân cũng là chuyện không cần nghĩ bàn.

Như vậy, muốn đạt được sự tự tin (khả năng) ở phần ngọn thì chúng ta phải đi xuống gốc là niềm tin (tự tin). Xuống đến gốc của niềm tin, thì chúng ta lại phải tìm nơi Ý Thức. Khi nhìn sâu vào Ý Thức, chúng ta mới phát hiện ra nguyên nhân chính, đó chính là định nghĩa.

Hãy lấy thí dụ về hai chữ Tự Do khi chúng ta nhìn dưới dạng nông về định nghĩa như thế nào?

Tự Do theo định nghĩa có nghĩa là mình (tự) có thể nghĩ theo ý mình (do).

Phần lớn chúng ta đều hiểu gần đúng hai chữ Tự Do như định nghĩa trên, nhưng lại thay chữ “nghĩ” bằng chữ “làm”. Cho nên, đã gây ra sự hiểu lầm trong sự phân tích và cách ứng dụng. Từ đó, mới gây ra rất nhiều tranh cãi và không ai chịu chấp nhận ai.

Nếu chúng ta chịu khó quan sát kỹ và nhìn sâu, chúng ta thấy, trong định nghĩa của Tự Do nhấn mạnh đến chữ Ý. Chữ Ý ở đây phải hiểu là chỉ liên quan đến tư tưởng mà không hề nói đến hành động.

Nếu đứng trên góc độ ứng dụng về Tự Do, theo định nghĩa diễn dịch chung của chúng ta là: “mình muốn làm gì thì làm”, và nếu không muốn gây ra sự hiểu lầm, chúng ta phải thêm vào bốn chữ sau Tự Do, đó là: Tư Tưởng và Hành Động.

Tự Do Tư Tưởng là mình có quyền nghĩ theo ý mình, có quyền phỏng đoán, tưởng tượng theo ý mình, mà không ai có quyền can thiệp hay bắt buộc chúng ta phải thay đổi.

Đừng nói là người nào đó có đủ uy quyền như: người đang ở cõi trời hay cõi người, có thể khống chế, hay đưa ra quy định nào để áp đặt Tự Do trong tư tưởng của chúng ta, mà ngay cả Ngã Thức của chúng ta, nơi trực tiếp xẩy ra các hoạt động của khởi niệm, cảm xúc/giác, cũng không đủ khả năng để khống chế được sự hoạt động tự do tư tưởng của chúng ta (thuộc về Ý Thức qua tác động của nguồn năng lượng).

Thí dụ, chúng ta có một tư tưởng tiêu cực về một vấn đề nào đó, nếu chúng ta quan sát kỹ, chúng ta thấy, tư tưởng tiêu cực đó luôn sử dụng quyền tự do để diễn dịch những hiện tượng, tình trạng, hay định nghĩa theo cách tiêu cực mà tư tưởng đó chọn lựa.

Cho dù, Ngã Thức là chủ nhân của Ý Thức, nhưng Ngã Thức của chúng ta cũng khó có thể làm được gì với những tư tưởng tiêu cực đang sử dụng quyền tự do suy diễn này.

Cho nên, ngoài sự chịu đựng, chờ đợi cho những tư tưởng tiêu cực không còn sử dụng đến quyền tư do ra (do nguồn năng lượng tiêu cực khống chế Ngã Thức và sử dụng Ý Thức để phân tích, so sánh,v.v.), thì Ngã Thức cũng đành bó tay, chịu trận.

Phần đông, qua lâm sàng, các nhà tâm lý khi gặp những bịnh nhân có tư tưởng tiêu cực thì các nhà tâm lý trị liệu thường hay tìm mọi cách để thay đổi trạng thái hay góc độ nhìn của bịnh nhân, từ những tư tưởng tiêu cực sang tích cực.

Đứng trên góc độ về phương pháp thì đây là cách thức chuẩn không cần chỉnh. Vì sao? Vì muốn chữa tiêu cực thì dùng sự đối lập của tiêu cực là tích cực, là đúng cách.

Nhưng vấn đề ở đây là, các nhà tâm lý đã không để ý đến Tự Do và Quyền Tự Do (Ý Thức không bị giới hạn, trong quan sát, phân tích, v.v.) mà tư tưởng tiêu cực đang sử dụng.

Cho nên, tuy phương pháp là chuẩn nhưng đứng trên góc độ của kết quả thì cần chỉnh. Vì các nhà tâm lý đã không biết ứng dụng làm sao để chấm dứt quyền tự do mà tư tưởng tiêu cực đang sử dụng, nên kết quả thường không mấy khả quan.

Ở đây, chúng ta sẽ không đào sâu vào phương pháp làm sao chấm dứt quyền tự do tiêu cực của các nhà tâm lý, mà chúng ta chỉ quan sát và nhìn sâu để nhận dạng được Tự Do Tư Tưởng hoạt động như thế nào, và qua sự quan sát đó, chúng ta có thể hiểu được đúng sự thật về Tự Do Tư Tưởng.

Có nghĩa là, đứng trên góc độ của Tư Tưởng thì chúng ta có quyền tự do tuyệt đối. Không ai có thể ngăn cấm hay bắt buộc, áp chế chúng ta được.

Thí dụ, trong Tự Do Tư Tưởng, chúng ta có toàn quyền muốn hại ai thì hại, muốn tiêu diệt ai thì tiêu diệt, mà không có thần thánh, chính quyền, hay luật pháp nào dù thuộc về Tư Bản chủ nghĩa,  hay Xã Hội chủ nghĩa, có thể trừng phạt, bắt bớ, hay giam cầm chúng ta.

Chúng ta có toàn quyền tự do làm nổ tung trái đất, vỡ toang vũ trụ, tiêu diệt thần thánh, cũng không có ai có thể ngăn cấm hay tước đoạt đi Quyền Tự Do Tư Tưởng Tuyệt Đối này của chúng ta. Đó chính là sự thật.

Cho nên, trong định nghĩa Tự Do là mình muốn nghĩ gì theo Ý mình là hoàn toàn chính xác, khi chúng ta thêm vào hai chữ Tư Tưởng theo sau. Hay nói đúng hơn phải là Tự Do trong Tư Tưởng mới rõ nghĩa.

Nhưng khi ứng dụng Tự Do và Quyền Tự Do trong Hành Động thì lại hoàn toàn khác.

Khác ở chỗ nào vậy chú? Diệu Hiền hỏi.

Này bạn trẻ, ai trong chúng ta cũng biết, hành động bao giờ cũng phải đến sau sự tư duy, hay cảm xúc/giác. Nếu không có sự tư duy hay cảm xúc/giác khởi đầu thì chúng ta không thể hành động.

Trong hành động, luôn bao gồm hai trường hợp: một là trực tiếp, và hai là gián tiếp. Hành động trực tiếp là hành động có sự tham gia của sự tư duy và cảm giác.

Còn hành động gián tiếp thì có sự tham gia của cảm xúc với những nguồn năng lượng “không tên”. Cho nên, có những khi, chúng ta cứ hành động một cách “tự nhiên” theo thói quen của Tiềm Thức mà không hề có sự tham gia của cảm giác hay suy nghĩ.

Qua quan sát, chúng ta thấy, Tự Do Hành Động có thể bắt đầu từ Tự Do Tư Tưởng trực tiếp, hay Tự Do Tư Tưởng gián tiếp, tùy theo môi trường, hoàn cảnh, tình trạng v.v.

Nếu như Ngã Thức của chúng ta có sự tư duy hay cảm giác tích cực thì chúng ta sẽ có những hành động tích cực. Nếu như chúng ta có những tư duy, hay cảm xúc tiêu cực thì chúng ta có những hành động tiêu cực.

Đó là đứng trên góc độ về nhân quả, khi tư tưởng hay cảm xúc/giác là Nhân và hành động là Quả.

Nhưng nếu đứng trên góc độ về: kinh tế, xã hội, chính trị, thì Tư Tưởng Hành Động, tuy được bắt đầu bằng quyền tự do trong tư tưởng, nhưng Tự Do trong Hành Động lại phải phụ thuộc vào môi trường, và hoàn cảnh chung quanh và có hai trường hợp sẽ xẩy ra.

Trường hợp một: Nếu Tự Do Hành Động của một cá thể nào đó, mà hành động đó chỉ ảnh hưởng đến cá thể đó, hay riêng cho cá thể đó thì Tự Do Hành Động của cá thể đó là tuyệt đối.

Trường hợp hai: Nhưng nếu như, Tự Do Hành Động của cá thể đó lại liên quan đến tập thể thì Tự Do Hành Động của cá thể đó sẽ bị giới hạn, từ tuyệt đối biến thành tương đối, và cá thể đó phải tuân theo quyền tự do chung của tập thể đã quy định.

Quyền tự do chung của tập thể là quyền tự do mà những cá thể, khi đã chịu chấp nhận sống chung, hay sinh hoạt chung, đòi hỏi mỗi cá nhân phải hy sinh một số quyền tự do tư tưởng (tuyệt đối) của cá nhân, và phải chấp nhận hành động theo quy định về tự do chung (tương đối) để tạo ra an ninh, hay an toàn chung cho tập thể.

Nếu cá nhân đó không tuân theo những quy định do tập thể quy định thì cá nhân đó có thể bị tập thể khống chế hay bắt buộc.

Thí dụ, nếu đứng trên góc độ Tự Do về Tư Tưởng thì cá nhân nào đó, có thể coi hại người là niềm vui, và có thể hại bất cứ một ai mà người đó không thích trong tư tưởng, mà không hề bị sự trừng phạt, bắt bớ, hay giam cầm từ bất cứ ai.

Nhưng nếu cá nhân đó đem tự do trong tư tưởng của mình,  và áp dụng Tự Do trong Hành Động liên quan đến tập thể, và gây thiệt hại cho tập thể thì cá nhân đó sẽ bị tập thể khống chế, trừng phạt, bắt bớ, giam cầm, hay tiêu diệt.

Vì sao? Vì Quyền Tự Do Hành Động của cá nhân đó đã vi phạm vào quyền tự do chung, vi phạm vào an ninh, hay an toàn chung của tập thể.

Đây chính là vấn đề mà chúng ta gây ra tranh cãi nhiều nhất. Bởi vì, chúng ta đã có sự hiểu lầm giữa Tự Do trong Tư Tưởng và Tự Do trong Hành Động.

Ở các nước có nền Dân Chủ cao, luật pháp được đặt ra để bảo vệ sự an ninh, an toàn, và quyền lợi của mỗi cá thể theo đa số. Luật pháp sẽ dựa trên đa số để quy định ra những quyền tự do hành động cho tập thể và bắt buộc mỗi cá thể trong tập thể đó phải tuân theo.

Vì chỉ dựa trên đa số, cho nên, tự do trong hành động của mỗi cá thể trong tập thể sẽ luôn có sự chống đối hay không hài lòng của thiểu số về những quy định do luật pháp của đa số đặt ra.

Với những người thuộc phe thiểu số, họ hay lý luận rằng, họ có quyền tự do hành động theo những gì họ muốn để biện minh cho những việc họ làm trái, hay sai, với những quy định về quyền tự do hành động chung của tập thể đã quy định.

Họ cho rằng, những quy định đó vi phạm vào quyền tự do hành động của họ và họ cảm thấy bất công, cho nên, họ phải tranh đấu để được quyền tự do hành động.

Nhưng thật ra, họ đã lầm lẫn giữa Tự Do và Quyền Tự Do giữa Tư Tưởng và Hành Động.

Nếu họ thêm vào bốn chữ sau Tự Do là, Tư Tưởng hay Hành Động, thì họ sẽ không rơi vào sự mơ hồ hay biện minh cho cái quyền tự do mà họ có thể sử dụng.

Thí dụ, họ có thể đạt được quyền tự do trong hành động một cách tuyệt đối khi họ chọn lựa sống một mình, không sinh hoạt hay va chạm gì đến tập thể. Lúc đó, họ có toàn quyền tự do hành động theo đúng ý họ muốn mà tập thể không thể áp đặt hay trừng phạt họ.

Vấn đề rắc rối ở đây là, họ lại không muốn sống một mình, họ muốn sống chung với mọi người nhưng họ lại muốn có cái quyền tự do hành động tuyệt đối theo ý họ. Và họ bắt mọi người phải chiều theo ý muốn của họ. Nếu không, họ coi như quyền tự do hành động của họ bị xâm phạm, bị cấm đoán.

Trong khi, họ không bao giờ nghĩ, nếu như, người ta thuộc đa số lại phải chiều họ, thì họ thuộc về thiểu số, họ có chịu chiều người ta không? Nếu họ đòi có quyền tự do hành động tuyệt đối, thì những người khác, cũng có quyền tự do hành động tuyệt đối, tại sao người khác lại phải nhường quyền đó cho họ?

Rõ ràng, chúng ta đang sống trong thế giới của nhị nguyên, thế giới của đúng sai, thế giới của tương đối, thế giới của đa số và thiểu số, chứ không phải chúng ta đang sống trong thế giới của nhất nguyên, của tuyệt đối. Cho nên, nếu chúng ta cứ đòi hỏi tất cả các sự việc phải xẩy ra theo tuyệt đối thì đó chỉ là ảo tưởng, không thật, và mãi mãi không bao giờ xẩy ra.

Hãy lấy thí dụ về quyền Tự Do Ngôn Luận, đứng trên góc độ về chính trị, phần lớn chúng ta vẫn hay có sự hiểu lầm và gây ra biết bao tranh cãi.

Theo định nghĩa, quyền tự do ngôn luận là quyền của mỗi một công dân, có quyền nói nên những ý kiến đóng góp cho chính quyền, khi chính quyền đó có những luật lệ gây ra ảnh hưởng đến quyền lợi, an ninh, hay an toàn của tập thể chung; và quyền tự do ngôn luận là quyền tự do thuộc về hành động chứ không phải là quyền tự do thuộc về tư tưởng.

Khi đã nói đến chính quyền, đến tập thể chung, có nghĩa là, quyền tự do đó sẽ chỉ là tương đối chứ không phải tuyệt đối (muốn nói, hay muốn làm gì thì làm), và phải theo sự lựa chọn của đa số chứ không phải là thiểu số.

Thế nên, khi những phản đối hay ý kiến đòi hỏi của nhóm thiểu số đưa ra mà không được chính quyền thay đổi, hay thi hành, thì những người thuộc về thiểu số sinh ra bất mãn và cảm thấy quyền tự do ngôn luận bị vi phạm, khống chế, hay bị kiềm kẹp. Thế là, họ đứng lên kêu gọi biểu tình, gây loạn lạc, chiến tranh, gây ra tang thương, đau khổ cho những người khác.

Để tránh những tình trạng bất ổn, và bảo đảm an ninh, an toàn cho đa số, chính quyền phải bắt giam hay trừng phạt những người thiểu số này. Khi bị bắt giam, những người thiểu số này lại cho rằng, chính quyền đó đã vi phạm vào quyền tự do ngôn luận hay tự do hành động của họ. Đây chính là chuẩn nhưng cần chỉnh. Vì sao?

Vì Quyền Tự Do Ngôn Luận, không phải là quyền tự do tuyệt đối theo tư tưởng của cá nhân, mà là quyền tự do hành động tương đối theo tập thể.

Nếu tập thể muốn thay đổi thì đa số trong tập thể phải lên tiếng. Và chỉ khi đa số trong tập thể muốn thay đổi thì chính quyền mới thay đổi. Còn nếu như đa số vẫn chấp nhận và chỉ có thiểu số muốn thay đổi thì chính quyền sẽ không vì quyền tự do ngôn luận của thiểu số mà thay đổi, rồi sau đó, bắt đa số phải chấp nhận. Đây chính là cách sinh hoạt của thế giới tương đối, hay thể chế dân chủ.

Chúng ta, ai cũng có quyền lựa chọn. Chúng ta có thể lựa chọn sống trong thế giới tương đối hay tuyệt đối. Nhưng chúng ta chỉ có quyền, chọn một trong hai, chứ không thể nào chọn cả hai cùng một lúc được.

Tệ hại hơn, không ít người trong chúng ta lại diễn dịch quyền tự do ngôn luận, vốn chỉ dành trong lĩnh vực chính trị, lấn qua xã hội và kinh tế v.v. 

Chúng ta cho rằng, chúng ta có quyền tự do tuyệt đối, muốn nói gì thì nói, chúng ta có thể nói về bất cứ ai, và nói bất cứ đề tài nào, về người nào đó, ngay cả đặt điều, hay nói không đúng sự thật, mà không cần phải chịu trách nhiệm là chúng ta có gây ra tổn thương cho người khác hay không, hay có làm tổn hại đến công ty của người khác hay không? Bởi vì, theo lý luận và diễn dịch của chúng ta, chúng ta có quyền tự do ngôn luận.

Nếu như chính quyền hay luật pháp vì bảo vệ quyền tự do chung của mọi cá nhân trong tập thể, và trừng phạt cái quyền tự do hành động hay ngôn ngữ gây ra tổn thương và tổn hại cho người khác của chúng ta, thì chúng ta cho rằng, chính quyền hay luật pháp đó bất công đã vi phạm vào quyền tự do hành động hay tự do ngôn luận tuyệt đối của chúng ta. Và chúng ta nổi loạn, chống đối lại chính quyền hay đa số.

Rõ ràng, quyền tự do ngôn luận chỉ được áp dụng cho chính trị, chứ không hề áp dụng cho xã hội hay kinh tế. Nhưng chúng ta lại thích diễn dịch theo ý mình, nên đã gây ra những nhận thức sai lầm, những tư tưởng lệch lạc, những phỏng đoán thiếu chính xác.

Rồi chúng ta dựa trên sự tư duy đó để hành động, và tạo ra vô vàn hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu, bao gồm: sự bạo loạn, đấu tranh, loạn lạc, chết chóc, đau thương, và khốn khổ cho tất cả mọi người.

Với những nước có nền dân chủ cao, những luật lệ được đặt ra, dựa trên quyền tự do chung, thì trong luật lệ, luôn có một phần đặt biệt dành cho những cá nhân thuộc về thiểu số.

Với những người thiểu số, họ có thể dành được quyền tự do chung của tập thể, theo ý họ, mà không cần phải gây ra bạo động, nổi loạn, gây ra chiến tranh, tàn hủy con người, đó là, luật lệ hay chính quyền luôn cho phép những người thuộc phe thiểu số có quyền kêu gọi, thỉnh cầu, thuyết phục những cá nhân khác, qua diễn thuyết, hay dự luật bầu cử, để thay đổi luật lệ, luật pháp, hay chính quyền, khi nhóm thiểu số biến thành đa số.

Tiếc rằng, phần lớn chúng ta lại thích sử dụng đến bạo động, nổi loạn, đấu tranh, lật đổ, hơn là sử dụng những quyền mà luật pháp cho phép, trong cách giải quyết ôn hòa, êm thắm.

Dĩ nhiên, trên thực tế, cái quyền tự do chung của luật pháp, cho phép những người thiểu số có thể thay đổi cái quyền tự do hành động, theo ý họ, tùy thuộc vào mỗi quốc gia, hay các thể chế. Có nơi có, nơi không.

Nhưng trên căn bản, ai trong chúng ta cũng đều có Tự Do và Quyền Tự Do. Vấn đề ở đây là, Tự Do và Quyền Tự Do đó, chúng ta sẽ sử dụng vào lĩnh vực nào. Vì mỗi lĩnh vực khác nhau thì Tự Do và Quyền Tự Do sẽ có sự ứng dụng, giới hạn, cũng như kết quả hay hậu quả sẽ khác nhau.

Cho nên, khi chúng ta nói đến tự do và quyền tự do thì chúng ta cần phải hiểu rất rõ ràng, đó là tự do và quyền tự do đang thuộc về tư tưởng hay hành động.

Tóm lại, Tự Do trong Tư Tưởng là sự tự do tuyệt đối của cá nhân. Không ai có quyền cấm, bắt, giam, hay trừng phạt cá nhân đó, nếu như cá nhân đó dùng quyền tự do tuyệt đối trong tư tưởng của cá nhân đó mà thôi.

Ngược lại, Tự Do trong Hành Động là sự tư do tương đối, khi cá nhân đã chấp nhận sống chung với tập thể, và phải chấp nhận thay đổi một số quyền tự do tuyệt đối của họ theo quyền tự do chung tương đối của tập thể đã quy định.

Cá nhân đó, có quyền sử dụng quyền tự do hành động một cách tuyệt đối theo ý mình, khi cá nhân đó chỉ sinh hoạt một mình, và không có sự liên hệ hay va chạm đến tập thể.

Nếu cá nhân đó, vì sợ sống cô đơn, hay vì lý do gì khác, muốn sống chung với tập thể, thì cá nhân đó phải chấp nhận lệ thuộc vào quyền tự do chung của tập thể, và phải tuân thủ theo đúng với những luật lệ quy định mà tập thể đó đặt ra.

Nếu cá nhân nào vi phạm vào quyền tự do chung của tập thể thì sẽ bị luật pháp hay luật lệ của tập thể đặt ra, trừng phạt, bắt ép, giam cầm v.v.

Qua thí dụ về định nghĩa hai chữ Tự Do, chúng ta thấy, chỉ cần chúng ta diễn dịch lệch lạc là chúng ta sẽ tạo ra biết bao khổ đau cho con người.

Chính vì vậy, chúng ta phải rất cẩn thận khi diễn dịch định nghĩa của chúng ta, nếu không, chính chúng ta cũng đang biến chúng ta thành nạn nhân của chính mình.

Trở lại niềm tin, nơi mà Ngã Thức của chúng ta nương tựa vào đó để xây dựng cá tính và cách ứng xử của chúng ta. Chúng ta thấy, niềm tin của chúng ta là cái quả từ cái nhân là định nghĩa. Nếu muốn thay đổi cái quả, chúng ta chỉ cần bắt đầu từ nhân.

Và đây là một số phương pháp mà chúng ta có thể ứng dụng trong đời sống hàng ngày để tạo ra một niềm tin vững chãi.

Khi bắt đầu một câu chuyện thì chúng ta nên luôn luôn xác định chúng ta đang đứng trên góc độ nào để nói. Việc xác định góc độ sẽ giúp cho chính chúng ta và người nghe có thể nhìn về cùng một hướng.

Khi chúng ta dùng những từ ngữ liên quan đến cảm xúc/giác, chúng ta cũng nên nói rõ định nghĩa của chúng ta là gì. Không có định nghĩa đúng hay sai. Chỉ là, mỗi người chúng ta đều có quyền diễn dịch theo ý của mình. Vì vậy, trong giao tiếp, chúng ta cần nên nói rõ định nghĩa của chúng ta để tránh gây ra những hiểu lầm về định nghĩa.

Khi nghe những từ ngữ liên quan đến cảm xúc/giác, chúng ta cũng nên xác định và hỏi lại đối tượng định nghĩa của họ là gì. Hỏi để chúng ta biết về định nghĩa và góc độ nhìn hay sự diễn dịch định nghĩa của họ, chứ không phải để lên án hay chỉ trích định nghĩa của đối tượng là đúng hay sai. Hay áp lực người đó phải thay đổi định nghĩa của họ theo mình.

Không nên sử dụng tiêu chuẩn kép, dù trong bất cứ trường hợp nào. Chỉ nên dùng một tiêu chuẩn: hễ đúng với mình thì đúng với người, mà sai với mình thì sai với người.

Muốn xác định được niềm tin của chúng ta như thế nào thì trước khi tin, nên hỏi những câu hỏi như sau: “có thật không”, “đã hỏi hay hiểu được định nghĩa của họ chưa?” Nếu là thông tin, thì “nguồn đó ở đâu?”, “có đáng tin cậy không?”, “Có bao nhiêu thông tin trái ngược với thông tin này?”, v.v.

Khi đã tin, và trong hành xử, thì dùng kết quả hay hậu quả để biết được niềm tin đó đúng hay sai. Nếu ra kết quả là đúng, nếu ra hậu quả là sai. Khi sai thì thay đổi lại định nghĩa, chứ không cần chèn ép hay áp bức phải thay đổi trong cách hành xử.

Đó là vài nét về cách ứng dụng để chỉnh lại niềm tin.

Khi niềm tin được kiểm chứng, có hiểu biết rõ ràng những góc độ, thì niềm tin đó sẽ đem đến cho chúng ta nhiều kết quả hay An Lạc nhiều hơn.

Khi có được sự An Lạc, và chúng ta chia xẻ trong chính những sự trải nghiệm, kiểm nghiệm của chúng ta thì khi nói hay làm việc gì, chúng ta sẽ tự tin. Vì sao? Vì chúng ta dựa vào kết quả và sự trải nghiệm của chính chúng ta.

Ngày nay, một số các diễn giả hay hướng dẫn các cách thức, hay phương pháp để gia tăng sự tự tin (tin vào khả năng của mình) của cá thể. Nhưng sự thật, sự tư tin chỉ xuất hiện khi chúng ta có niềm tin vững chãi, đúng với sự thật.

Khi niềm tin của chúng ta chỉ dựa trên sự phỏng đoán hay tưởng tượng thì khi tiếp xúc với sự thật chúng ta sẽ dễ bị “vỡ mộng”.

Chính vì vậy, không ít người trong chúng ta đã vô cùng thất vọng về những niềm tin của mình, và cuối cùng rơi vào trạng thái tự ty, tự tôn.

Tóm lại, muốn có được tự tin (tin vào khả năng của mình) thì nên phát triển từ niềm tin. Niềm tin chính là gốc rễ của tự tin. Khi gốc rễ phát triển mạnh thì tự tin sẽ có mặt, hay nở hoa trái là chuyện tất nhiên.

Thí dụ: chúng ta chỉ có thể tự tin khi chúng ta có kinh nghiệm hay trải qua những vấn đề nào đó. Nếu chúng ta không có kinh nghiệm thì chúng ta không thể tự tin được. Nếu có chăng, đó cũng là sự đánh lừa hay “tự trấn an”, chứ đó không phải là tự tin.

Chúng ta phải hiểu, khi nói tự tin là khả năng, có nghĩa là, chúng ta đã phải làm qua, trải qua, mới xác định được chúng ta có khả năng hay không. Chứ không thể nào, chưa làm qua, mà chúng ta có thể khẳng định là chúng ta có khả năng được; trừ khi, chúng ta dùng sự tượng tượng và phỏng đoán để đưa ra kết quả.

Và muốn trải qua, hay có kinh nghiệm thì chúng ta phải có niềm tin trước, rồi mới bắt đầu thực hành quá trình trải nghiệm hay tích lũy kinh nghiệm.

Nếu chúng ta không bắt đầu từ niềm tin, và cứ tìm đủ mọi phương pháp để gia tăng sự tự tin, thì cũng giống như chúng ta đang “mò trăng dưới nước” vậy.

Thay vì, tốn nhiều thời gian cho việc phát triển cái ngọn tự tin, chúng ta nên dành thời gian đó để kiểm chứng và thay đổi lại những niềm tin mà chúng ta đã tích lũy trong qúa khứ.

Nếu niềm tin nào đúng thì chúng ta giữ lại, và niềm tin nào sai thì chúng ta đi thay lại định nghĩa mới cho niềm tin đó.

Việc làm này, xem ra hợp lý, thiết thực, và hữu ích hơn. Vì sao? Vì chúng ta đang có vô vàn niềm tin vẫn chưa được kiểm chứng.

Cứ càng nghe chia xẻ của chú thì cháu càng thấy chúng ta thích dùng Trí hơn dùng Tuệ chú nhỉ.

Chẳng trách sao, cuộc đời của chúng ta cứ đau khổ, vì chúng ta cứ lo tập trung để phát triển về phần ngọn mà lại quên đi phần gốc. Thật đáng tiếc làm sao. Hoàng Trang nói.

Những đứa trẻ từ đâu kéo đến gần chỗ ba chú cháu đang ngồi, và bầy trò chơi “bịt mắt bắt dê”. Chúng vui đùa, cười nắc nẻ. Ba chú cháu cùng hướng mắt về đám trẻ và vui lây với sự hồn nhiên tươi mát của trẻ thơ.

We use cookies in order to give you the best possible experience on our website. By continuing to use this site, you agree to our use of cookies.
Accept